Donnerstag, 24. April 2014
24-4-2014 Nổi Niềm Mùa Phục Sinh
Mùa Lể Phục Sinh đả qua , không giang vẩn còn phản phấc dư âm màu sắc của cảnh lể , nhiều nhà vẩn còn treo đầy hoa và trứng trước cửa , mùa Phục Sinh năm nay thời tiết củng như bao nhiêu năm tuần hoàn giống nhau , ngày thứ sáu sáng mưa chiều u ám ,thứ bảy bắt đầu trời trong dần , qua chủ nhật nắng lên cao và đến thứ hai thì nắng chối chang như mùa hè , hiện tượng của lể Phục Sinh luôn hiện hữu qua thời tiết thiên nhiên nhiệm màu , luôn mang niềm tin đến cho mọi người biết niềm vui của vạn vật Phục Sinh .
Dienstag, 22. April 2014
22-4-2014 Giản Về Bài Thơ " Hoàng Hạc Lâu " Của Thầy Đổ
HOÀNG HẠC LÂU và NHỮNG LÂU ĐÀI LIÊN QUAN
Nhân dịch bài thơ " Đăng Hoàng Hạc Lâu " của Cụ Phan Thanh Giản, Tôi muốn giới thiệu sơ lược về ngôi lầu nổi tiếng cổ kim nầy, và những bài thơ, giai thoại liên quan....
Hoàng Hạc Lâu ( HHL ) nằm ở trên Hoàng Hạc Cơ của Xà Sơn thuộc đất Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc. Được xây dựng từ năm Hoàng Võ thứ 2 của nước Đông Ngô thời Tam Quốc ( 223 sau CN ). Theo sách " Nguyên Hòa Quận Huyện Đồ Chí " ghi lại : " Tôn Quyền khi xây Cố thành ở Hạ Khẩu, vì thành tây giáp Trường Giang, góc Giang Nam lại có bờ đá lớn, nên xây lên một lầu cao để quan sát, gọi tên là HHL . Lầu được xây dựng cho mục đích quân sự. ". Nhưng theo sách " Cực Ân Lục " ghi lại, thì HHL là do dòng họ Tân Thị xây lên để làm tửu lâu.
Qua các triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, trước sau được tu sửa đến 10 lần, nhưng cuối cùng vẫn bị hũy ở đời vua Quang Tự thứ 10 ( 1884 ). Từ đời Bắc Tống cho đến khi bị hũy, HHL từng là Đạo Tràng lớn của Đạo giáo ( Lão giáo ). Là nơi truyền đạo của tiên ông Lữ ( Lã ) Động Tân ( một trong Bát Tiên ), tương truyền, Tổ Sư Lã Động Tân đã cởi hạc thăng thiên trong ngày 20 tháng 5 ở HHL, nên nơi đây trở thành thánh tích của Đạo Giáo từ đó.
Hoàng Hạc Lâu ( HHL ) nằm ở trên Hoàng Hạc Cơ của Xà Sơn thuộc đất Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc. Được xây dựng từ năm Hoàng Võ thứ 2 của nước Đông Ngô thời Tam Quốc ( 223 sau CN ). Theo sách " Nguyên Hòa Quận Huyện Đồ Chí " ghi lại : " Tôn Quyền khi xây Cố thành ở Hạ Khẩu, vì thành tây giáp Trường Giang, góc Giang Nam lại có bờ đá lớn, nên xây lên một lầu cao để quan sát, gọi tên là HHL . Lầu được xây dựng cho mục đích quân sự. ". Nhưng theo sách " Cực Ân Lục " ghi lại, thì HHL là do dòng họ Tân Thị xây lên để làm tửu lâu.
Qua các triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, trước sau được tu sửa đến 10 lần, nhưng cuối cùng vẫn bị hũy ở đời vua Quang Tự thứ 10 ( 1884 ). Từ đời Bắc Tống cho đến khi bị hũy, HHL từng là Đạo Tràng lớn của Đạo giáo ( Lão giáo ). Là nơi truyền đạo của tiên ông Lữ ( Lã ) Động Tân ( một trong Bát Tiên ), tương truyền, Tổ Sư Lã Động Tân đã cởi hạc thăng thiên trong ngày 20 tháng 5 ở HHL, nên nơi đây trở thành thánh tích của Đạo Giáo từ đó.
黄鹤樓 HOÀNG HẠC LÂU
昔人已乘黃鶴去, Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
此地空餘黃鶴樓。 Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
黃鶴一去不復返, Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
白雲千載空悠悠。 Bạch vân thiên tải không du du
晴川歷歷漢陽樹, Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thọ
芳草萋萋鸚鵡洲。 Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
日暮鄉關何處是, Nhật mộ hương quan hà xứ thị
煙波江上使人愁。 Yên ba giang thượng sử nhân sầu
崔 颢 Thôi Hiệu
昔人已乘黃鶴去, Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
此地空餘黃鶴樓。 Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
黃鶴一去不復返, Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
白雲千載空悠悠。 Bạch vân thiên tải không du du
晴川歷歷漢陽樹, Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thọ
芳草萋萋鸚鵡洲。 Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
日暮鄉關何處是, Nhật mộ hương quan hà xứ thị
煙波江上使人愁。 Yên ba giang thượng sử nhân sầu
崔 颢 Thôi Hiệu
Bài diễn nôm Lục Bát của Thi sĩ Tản Đà :
Hạc vàng ai cởi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng Lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai !...
Hạc vàng ai cởi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng Lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai !...
Quả là cảnh tình hợp nhất, tình cảnh tương liên, hòa hợp thành một bức tranh tuyệt tác... Thảo nào mà khi đến đây, nhìn lên vách thấy bài thơ nầy, Thi Tiên Lý Bạch đã phải quẳng bút mà than rằng :
登金陵鳳凰台 Đăng KIM LĂNG PHỤNG HOÀNG ĐÀI
鳳凰台上鳳凰游, Phụng Hoàng Đài thượng Phụng hoàng du
鳳去台空江自流。 Phụng khứ đài không, giang tự lưu
吳宮花草埋幽徑, Ngô cung hoa thảo mai u kính
晉代衣冠成古邱。 Tấn đại y quan thành cổ khâu
三山半落青天外, Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
二水中分白鷺洲。 Nhị thủy trung phân Bạch lộ châu
總為浮雲能蔽日, Tổng vị phù vân năng tế nhật
長安不見使人愁。 Trường An bất kiến sử nhân sầu !
Không riêng gì Lý Bạch, còn có rất nhiều thi sĩ đương thời ngấm ngầm ganh tỵ với bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Họ không ganh ghét, mà chỉ muốn chứng tỏ tài năng của bản thân mình, vì địa vị và tài hoa của họ cũng không thua Thôi Hiệu chút nào cả.!. Trong số những thi sĩ " ngấm ngầm " nầy, ta thấy có Vương Xương Linh, tác giả của bài " Khuê Oán " nổi tiếng với " Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu !....". Ông đã làm bài " Vạn Tuế Lâu " với đủ cả âm hưởng và vần điệu của " Hoàng Hạc Lâu ". Nào, ta hãy cùng đọc và tìm hiểu bài thơ nầy nhé !....
江上巍巍萬歳楼。 Giang thượng nguy nguy Vạn Tuế Lâu
不知経歴幾千秋。 Bất tri kinh lịch kỷ thiên thu
年年喜見山長在。 Niên niên hỉ kiến sơn trường tại
日日悲看水独流。 Nhật nhật bi khan thủy độc lưu
猿狖何曾離暮嶺。 Viên dứu hà tằng ly mộ lĩnh
鹭鷀空自泛寒洲。 Lô tư không tự phiếm hàn châu
誰堪登望雲煙裏。 Thùy kham đăng vọng vân yên lý
向晩茫茫發旅愁。 Hướng vãn man man phát lữ sầu
王昌齡 Vương Xương Linh.
Diễn nôm :
Mặc dù không so được với Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, và Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài cũa Lý Bạch, nhưng đây cũng là một bài thơ hay tả lại cảnh trí của một Danh Lâu thuở xưa ở trên Tây Nam thành của Phủ Trấn Giang thuộc Tỉnh Giang Tô.
Còn rất nhiều thơ tả lại " Tứ Đại Danh Lâu " 四大名楼 ( Đằng Vương Các , Hoàng Hạc Lâu, Nhạc Dương Lâu và Phù Dung lâu ) . Nhưng vì bài viết đã quá dài và ý của bài nầy là chỉ muốn đề cập đến những bài thơ có liên quan đến Hoàng Hạc Lâu mà thôi....
Xin hẹn lại bài kế tiếp. Trân trọng. Đ C Đ
Nhởn tiền hữu cảnh đạo bất đắc 眼前有景道不得
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu 崔颢题詩在上頭
Nghĩa :
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu 崔颢题詩在上頭
Nghĩa :
Trước mắt có cảnh mà nói chẳng nên lời, vì Thôi Hiệu đã đề thơ ở phía trên đầu ta rồi ! Vì Lý biết chắc rằng, nếu mình có miễn cưỡng làm thơ, thì chắc chắn chẳng bao giớ bằng được bài thơ mà Thôi Hiệu đã làm, nên thôi. Nhưng nỗi lòng ấm ức vẫn cứ mãi âm ĩ trong tâm, cho nên khi đến đất Kim Lăng, lên ngắm cảnh trên Phụng Hoàng Đài, ông mới xúc cảnh sinh tình, mà làm nên bài thơ " Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài " rất xuất sắc, gieo vần và âm hưởng đều tương tự như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Phải chăng để giải tỏa đi cái ấm ức bấy lâu nay ở trong lòng ?. Ta hãy cùng đọc bài thơ này nhé :
登金陵鳳凰台 Đăng KIM LĂNG PHỤNG HOÀNG ĐÀI
鳳凰台上鳳凰游, Phụng Hoàng Đài thượng Phụng hoàng du
鳳去台空江自流。 Phụng khứ đài không, giang tự lưu
吳宮花草埋幽徑, Ngô cung hoa thảo mai u kính
晉代衣冠成古邱。 Tấn đại y quan thành cổ khâu
三山半落青天外, Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
二水中分白鷺洲。 Nhị thủy trung phân Bạch lộ châu
總為浮雲能蔽日, Tổng vị phù vân năng tế nhật
長安不見使人愁。 Trường An bất kiến sử nhân sầu !
Phụng Hoàng Đài ở Kim Lăng.
Diễn nôm :
Phụng Hoàng Đài trước phụng hoàng chơi
Phụng đã biệt tăm, sông vẫn trôi
Hoa cỏ cung Ngô đà vắng vẻ
Y trang nhà Tấn cũng xa rồi
Ba núi lưng trời như ẩn hiện
Hai dòng sông nước rẻ đôi nơi
Cũng bởi mây mù che mặt nhật
Trường An chẳng thấy dạ bồi hồi !
Phụng Hoàng Đài trước phụng hoàng chơi
Phụng đã biệt tăm, sông vẫn trôi
Hoa cỏ cung Ngô đà vắng vẻ
Y trang nhà Tấn cũng xa rồi
Ba núi lưng trời như ẩn hiện
Hai dòng sông nước rẻ đôi nơi
Cũng bởi mây mù che mặt nhật
Trường An chẳng thấy dạ bồi hồi !
So với " Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu " thi bài nầy ngụ ý xâu xa hơn, thâm trầm và có chiều sâu hơn, kỹ thuật cũng nghiêm cẩn hơn, nhưng thơ của Thôi Hiệu lại khoáng đạt hơn, trực tả cảnh trí trước mắt, hơi thơ liền lạc đi một mạch từ đầu đến cuối, và " đi " thẳng vào lòng người đọc !.... Hai bài đều có cái hay riêng, nhưng sao ta vẫn thấy Hoàng Hạc Lâu như vẫn thanh thoát và gợi cảm hơn... Có phải chăng... tại Hoàng Hoạc Lâu gần gũi, thân thiết với người đọc hơn là với Phụng Hoàng Đài ?!!!....
Không riêng gì Lý Bạch, còn có rất nhiều thi sĩ đương thời ngấm ngầm ganh tỵ với bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Họ không ganh ghét, mà chỉ muốn chứng tỏ tài năng của bản thân mình, vì địa vị và tài hoa của họ cũng không thua Thôi Hiệu chút nào cả.!. Trong số những thi sĩ " ngấm ngầm " nầy, ta thấy có Vương Xương Linh, tác giả của bài " Khuê Oán " nổi tiếng với " Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu !....". Ông đã làm bài " Vạn Tuế Lâu " với đủ cả âm hưởng và vần điệu của " Hoàng Hạc Lâu ". Nào, ta hãy cùng đọc và tìm hiểu bài thơ nầy nhé !....
萬歳楼 VẠN TUẾ LÂU
江上巍巍萬歳楼。 Giang thượng nguy nguy Vạn Tuế Lâu
不知経歴幾千秋。 Bất tri kinh lịch kỷ thiên thu
年年喜見山長在。 Niên niên hỉ kiến sơn trường tại
日日悲看水独流。 Nhật nhật bi khan thủy độc lưu
猿狖何曾離暮嶺。 Viên dứu hà tằng ly mộ lĩnh
鹭鷀空自泛寒洲。 Lô tư không tự phiếm hàn châu
誰堪登望雲煙裏。 Thùy kham đăng vọng vân yên lý
向晩茫茫發旅愁。 Hướng vãn man man phát lữ sầu
王昌齡 Vương Xương Linh.
Thích nghĩa :
Vạn Tuế Lâu cao cao ngất nghểu trên bờ sông Trường Giang, không biết là trải qua mấy ngàn thu rồi. Nhưng, vẫn còn mừng vì mỗi năm đều trông thấy núi xanh vẫn còn đó, chỉ buồn là mỗi ngày đều thấy dòng nước âm thầm lặng lẽ trôi. Bầy khỉ vượn vẫn luyến lưu chưa từng rời khỏi đĩnh núi mỗi khi chiều xuống, cũng như đàn cò kia vẫn luôn luôn bay lượn vô tư lự trên bãi sông lạnh lẽo. Ai là người có thể leo lên đứng trên lầu cao nầy, nhìn vào trong khói mây mờ mịt mỗi buổi chiều, mà không thấy lòng trổi dậy một nỗi buồn lữ thứ tha hương ?!
Vạn Tuế Lâu cao cao ngất nghểu trên bờ sông Trường Giang, không biết là trải qua mấy ngàn thu rồi. Nhưng, vẫn còn mừng vì mỗi năm đều trông thấy núi xanh vẫn còn đó, chỉ buồn là mỗi ngày đều thấy dòng nước âm thầm lặng lẽ trôi. Bầy khỉ vượn vẫn luyến lưu chưa từng rời khỏi đĩnh núi mỗi khi chiều xuống, cũng như đàn cò kia vẫn luôn luôn bay lượn vô tư lự trên bãi sông lạnh lẽo. Ai là người có thể leo lên đứng trên lầu cao nầy, nhìn vào trong khói mây mờ mịt mỗi buổi chiều, mà không thấy lòng trổi dậy một nỗi buồn lữ thứ tha hương ?!
Ngất nghểu trên sông Vạn Tuế Lầu
Mấy ngàn năm cũ vẫn cao cao
Mừng trông núi biếc còn trơ mãi
Buồn ngắm sông côi vẫn chảy mau
Lũ vượn luyến lưu chiều núi thẳm
Đàn cò bay lượn bãi sông sâu
Nào ai lên gác trông mây khói
Chiều xuống mênh mông lữ khách sầu !
Mấy ngàn năm cũ vẫn cao cao
Mừng trông núi biếc còn trơ mãi
Buồn ngắm sông côi vẫn chảy mau
Lũ vượn luyến lưu chiều núi thẳm
Đàn cò bay lượn bãi sông sâu
Nào ai lên gác trông mây khói
Chiều xuống mênh mông lữ khách sầu !
Mặc dù không so được với Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, và Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài cũa Lý Bạch, nhưng đây cũng là một bài thơ hay tả lại cảnh trí của một Danh Lâu thuở xưa ở trên Tây Nam thành của Phủ Trấn Giang thuộc Tỉnh Giang Tô.
Còn rất nhiều thơ tả lại " Tứ Đại Danh Lâu " 四大名楼 ( Đằng Vương Các , Hoàng Hạc Lâu, Nhạc Dương Lâu và Phù Dung lâu ) . Nhưng vì bài viết đã quá dài và ý của bài nầy là chỉ muốn đề cập đến những bài thơ có liên quan đến Hoàng Hạc Lâu mà thôi....
Xin hẹn lại bài kế tiếp. Trân trọng. Đ C Đ
Freitag, 18. April 2014
18-4-2014 人生勇於面對
有肚量去容忍那些不能改變的事;
有毅力去改變那些可能改變的事;
有能力去發現那些可有可無的事;
有智慧去分辨那些非此即彼的事;
有恒心去完成那些看似無望的事;
有勇氣去面對那些已經做錯的事。
不要輕易抱怨,就會感覺快樂一點,
不要輕易喊苦,就會感覺幸福一點,
不要都在發牢騷,就會感覺自在一點,
哭聲少一點,笑聲大一點,快樂就會久一點。
有智慧去分辨那些非此即彼的事;
有恒心去完成那些看似無望的事;
有勇氣去面對那些已經做錯的事。
不要輕易喊苦,就會感覺幸福一點,
不要都在發牢騷,就會感覺自在一點,
哭聲少一點,笑聲大一點,快樂就會久一點。
Mittwoch, 16. April 2014
16-4-2014一位老人的忠告,值得收藏一生 .
人在世、多交人,為人處事要留神。
逢人要講七分話,不可全露一片真。
畫虎畫皮難畫骨,知人知面不知心。
朋友交的滿天下,真正摯情有幾人?
有茶有酒是兄弟,為難之時不見人。
人敬富、狗咬貧、財大氣粗小瞧人。
窮在街頭無人問,富在深山有遠親。
山高路遠知馬力,日久天長見人心。
靠海邊、知魚性,久居深山知鳥音。
酒逢知己要少飲,話到舌尖留三分。
緊睜眼睛慢張口,惡語傷人生禍根。
狐朋狗友害人命,骨血親情連著筋。
人得一生搏為餅,得了飯碗養育恩。
父母的恩深如海,夫妻情誼心連心。
生兒育女防備老,人流後世草留根。
長江後浪推前浪,世間新人趕舊人。
攢下黃金幾百鬥,臨死不能帶分文。
爭名奪利幾十載,一柱青煙化灰塵。
人生如同一場夢,轉眼就是幾十春。
老人能耐小,就怕兒孫不成人。千辛萬苦都能忍,錯交朋友最傷心。朋友一旦翻了臉,痛斷肝腸悔透心。
15-4-2014 Tháng 4 Nguyệt Thực
Đêm nay là 16 tháng 3 âm lịch ,trăng tròn hơn đêm qua , 5 năm nay đả quen rồi những đêm trăng tròn mình ít ngủ , thỉnh thoản đến đứng bên cửa sổ ngắm cảnh màu trời không biết tối của những đêm trăng sáng ,cảnh vật xum quanh dưới ánh trăng vàng là một thế giớithanh bình yên tịnh ,đêm nay khác hơn những đêm trăng khác , trời đêm nay tối , dù trăng vẩn tròn và đang di chuyển chậm chạp , ánh trăng mờ không đủ làm mặt đất sáng như thường khi , cảm giác đêm nay như trăng củng đang buồn ,vì thế sự từ đầu năm Giap Ngọ đến giờ không được bình yên .
Hôm nay thiên nhiên xảy ra nguyệt thực , có thể nhìn thấy ở Nam Mỹ , ở Phi Châu ,truyền thông thu được cảnh sắc nguyệt thực xảy ra lần đầu của năm 2014 có màu sắc đỏ xen các màu tím hông của nguyệt cầu giữa lúc xảy ra nguyệt thực , nên gọi tên Huyết Nguyệt , tên nghe củng rùng rợn không kém chuyện ma Darcula , tiếc là Châu Âu không thể thấy , chỉ được ngồi xem tường trình trên TV với các màu sắc thần kỳ của Nguyệt Thực lần nầy ..
Ở đây nhận lảnh thời tiết giong gió , xa lộ phía bắc xảy ra nhiều chuyến xe vận tãi bị lật ngang đường khi xe queo lái bắt đầu đổi hướng , nhìn cảnh giong gió khiến nhiều tai nạn giao thông xảy ra khắp nơi trình chiếu trên truyền hình ,trong thiên tai sinh mạng con người thật mỏng manh , cuộc đời nào củng luôn có những phong ba bất chợt rình gặp , khiến đường đời bổng trong khoản khắc từ hạnh phúc đầy đủ trở nên đau thương tan tác , mỏi lần xem những cảnh tan thương , thiên tai hay nhân họa , là mỏi lần cảm xúc dâng đầy , cảm kích cuộc sống bình yên hiện tại , càng thấy quý thời gian hơn bao giờ hết , dù đời người khi nắng khi mưa , dù cuộc sống luôn luôn có nhiều điều đều bất như ý ,vẩn cảm ơn Trời và cảm ơn cuộc đời nầy muôn vạn lần , đả cho mình sự sống và biết nghỉ ,biết làm , hưởng sự bình yên khỏe mạnh của ơn trên che chở , mỏi khi có những việc bất như ý xảy ra .
Mùa xuân năm nay ,chỉ dẫn và giúp được thêm 3 người giảm được bệnh vị ứng phấn hoa nhờ môn học Akupressur , A Chứ ở Siêu Thị Phụng Hoàng ,ba tuần nay mùa hoa nở khăn giấy không lìa tay lao nước mủi nước mắt , nhận dịp ghé mua hàng hai tuần trước , mình chỉ cách tường tận các nơi huyệt cần xoa , bây giờ theo cách xoa huyệt trên đầu , đả không còn cần đến khăn giấy , muổi củng ngưng chảy ,mắt không còn ngứa và đõ , Chị N Đ ở San jose viết mail và gọi điện đầu tháng 4 than năm nay bị vị ứng quá nặng ,nửa đêm 3 giờ sáng phải ngủ ngồi vì mũi chảy xuốt không còn thở được , mình kêu chị hãy xoa liền 5 phút huyệt Dịch Môn ( trong sách chỉ dạy ấn 3 phút ) ,mũi sẻ ngưng chảy tức khắc ,và ghi chú tường tận cho chị tập các điểm khác như đả chỉ cho A Chứ , hôm sau chị trả lời là đả bớt được phần nào ,và đang làm tiếp các huyệt khác để được dứt bệnh . người thứ ba là một bà Đức khách quen Emily , năm nay đột nhiên cũng bị vị ứng nặng ,đi ăn nhà hàng mà hỉ mũi không ngừng , mặt mài mắt mủi đều xưng bất thườg , mình vừa làm vừa chỉ các điểm cần xoa mỏi buổi sáng thức vậy cho bà bắt trước , chỉ xoa 5 phút bà bảo đả khỏe hơn trước đó nhiều rồi ,mủi thông được hơn trước , hiệu quả có liền trước mắt , bà hứa về mỏi ngày sáng tối sẻ tự tập làm như mình đả chỉ dẫn . Mỏi lần chỉ dẫn quảng bá được cho một người nào về sự huyền diệu của môn học cổ truyền nầy , tự cảm thấy rất vui ,vừa làm được một việc tốt ,lại vừa không phụ lời bài giản cuối của thầy C L Kiếm , ai sau khi học biết kiến thức về môn học nầy , các học viên phải mang điều mình học ra để giúp ích nhân loại ,quảng bá môn học rộng rải khắp 5 châu , lưu truyền về lâu càng thông dụng , củng là đả tích được công đức vào xả hội bây giờ và tương lai , như thầy đả từng học và làm như vậy nhiều năm qua .
Mỏi năm thêm một tuổi ,càng có tuổi nhiều thì tâm hồn càng hoàn thiện với nhân sinh , biết làm tốt mọi việc xum quanh giữa người thân bạn bè quen biết , củng biết cảm ơn mọi việc vui buồn xảy ra trên đường đời , như một ân huệ thách thức với bản năng sinh tồn với từng cá tính ,để có thể tiếp theo một hướng đi mạnh mẻ kiên cường sáng sủa hơn trước , hay ngu dại rẻ vào một lối tiêu cưc mịch mùng trong khói độc như ý muốn của ma quỷ hay phường vô loại . Mình củng rất biết ơn sự tồn tại của tôn giáo , các bài triết lý nhân sinh của Hiền nhân trong lịch sử để lại , ơn nghỉa sinh thành của cha mẹ , gia phả tổ tiên , đả có lúc tâm tư trống vắng Như Tâm đả chết , hồn phách như bị người đời đánh ngả ngựa , Nhờ Niềm Tin , sách Thanh Hiền , lời dạy giỗ của bậc cha ông , vẩn dương lên đứng vững được và vẩn sống vẻ vang hơn người bản xứ , không phụ lòng sinh và dưỡng dục của song thân . Mấy năm nay , học được nhiều điều hay , thấu được Đạo trong đời người và Nghiệp trong Ân Quả , không có gì là vô cớ xảy ra ,củng không có gì là vô lý mà được toại , bởi vì hiểu được , nên tâm bình thản , cuộc đời là một chuyến đi không có hướng quay đầu trở lại , trên đường đả đi qua gieo được hạt giống thiện duyên ,hay nhiều màu sắc hoa thơm cỏ dược , là đạo đả được cao hơn đời , sống không uổn phí cho một chuyến đi dù đường ngắn hay đường dài .
Donnerstag, 10. April 2014
10-4-2014 浅浅四月
浅浅四月 ,山花烂漫 , 一地葱绿,清浅固然 , 草长莺飞 , 燕舞轻歌 , 叶影婆娑,心却宁静 . 雨晴气爽 , 伫立江楼 , 澄明远水 , 重暮山翠 , 生气盎然 , 遥认径桥, 高高远眺 , 脉脉绵绵 .昔日恩情 , 动人瞬间 , 惆怅满怀 , 依然牵念 , 徘徊心底 .长久回味,弥久愈香 .
暮云过了 , 脉胳清晰 , 空气凉爽 , 湛蓝如洗 , 澄净洁美 , 静倚阑干 , 淡淡牵念 , 飘落日子 , 脉脉长情 , 斑斑泪痕 , 因為看輕,所以无言 , 因為看淡,所以静默 , 故人千里 , 一句珍重 , 不及留言 , 年月深渊 , 天地一方 , 所以在此 , 写满心思 , 留给季节 .
Montag, 7. April 2014
4-4-2014 Tháng Tư
Đi đám tang tiễn ông hàng xóm Pfeifer ở nghỉa trang thị trấn về , lòng bồi hồi vướng mắc khuôn mặt buồn và hai đôi mắt thể hiện cảm xúc khác nhau của vợ và con trai người quá cố ,trong đôi mắt người vợ tràn đầy cô đơn ,vô lực như mất đi nơi nương tựa tinh thần giữa cuộc đời ,đôi mắt Marco nhìn dũng cảm , cam tâm cố gắng chịu đựng trong xuốt buổi lể tiễn đưa cha lần cuối vào lòng đất , như nhìn thấu được sự ra đi vĩnh viển là giải thoát đi nổi chịu đựng đau khổ giữa người thân và thể xác người bệnh nằm liệt đả kéo dài hơn 3 năm dài , từ khi phẫu thuật tai nạn biến chứng không hoàn mãn , ngày thang đau thương làm cạn kiệt tinh thần thể xác cả người thân lẩn người bệnh nằm liệt trong nhà dưỡng hộ . người đi đưa đám thật đông , quang cảnh như lời của Linh Mục giản trong nhà nguyện ,chúng ta haỷ dang tay ra tiễn người bệnh đi thanh thản về với Chúa , nơi đó không có đau thương bệnh hoạn , không gian tồn tại là tình yêu thương của Chúa .
Nghe giọng nói đều đều của Linh Mục Klg giảng trong không khí nắng ấm đầu tháng 4 , sự ra đi vĩnh viển vào lòng đất của một người đều như khởi sự một cuộc hành trình mớiđể đến một thế giới khác có chúa và tình thương yêu hạnh phúc đang chờ đợi , chợt nghỉ đến không biết những linh hồn từng chêt oan do bom đạn giao tranh , những cái chết ngả theo thành của các tướng lảnh ngày 30 thang 4 1975 ở VN , bao nhiêu nhân kiệt sinh linh ói khát mòn sức chết gục trong trại cải tạo , những đứa trẻ chết mòn mỏi kiệt sức thiếu dinh dưỡng , bị mất cha mất mẹ trong thời cuộc loạn lạc , hay những người chạy nạn vượt biên bị chết chìm dưới đáy biển , có phải là sau những cái chết oan tiếc đau thương , hồn củng tự khởi sự một cuộc hành trình hạnh phúc đến nơi thiên đường của Chúa hay Phật như LM đang giản trong nhà nguyện không ? chắc khó có ai đó biết hay trả lời được , nhưng có một đều thật tế giống như nhau ai củng thấy , người thân còn lại ở dương trần của những oan hồn rât buồn và đau thương khốn cùng , những nổi buồn hằng trên mắt chắc không có bút mực nào tả hết được , nổi buồn không đơn thuần như mình đả nhìn thấy hay cảm giác được mỏi khi đi tiễn một người quen nào về lòng đất lạnh ở xứ Đức nầy .
Tháng 4 ,trời nóng như mùa hè mưa nắng bất chợt , buổi tối không gian thắm mùi thơm của cỏ mới , bầu trời đêm bao la có bao nhiêu hồn tử sỉ , hồn oan tức tưởi đang trở về tựu lại từng nơi của ngày lâm nạn tiếc nhớ , mùa thanh minh của á đông phản phất trong đêm mưa , nhớ cổ nhân đả từng viết " Thanh Minh Thời Tiết Vũ Phân Phân ,Lộ Thượng Hành Nhân Nhất Đoạn Hồn .." tự hỏi có bao nhiêu mộ phần mùa thanh minh không ai đến viếng ,có bao nhiêu hồn oan chưa bao giờ được người thân cúng tế , Thang 4 là dịp để mỏi người nhắc lại sự kiện lịch sử , đọc lại kể lại những chuyện oan nghiệt mất mát trong quốc biến , thương cảm đến các hồn oan nghiệt ngả ra đi theo vận nước .
Thang 4 là mùa thổn thức của người Việt tỵ nạn xa xứ , tháng bắt đầu có những tâm tư của nhiều nạn nhân nhớ về quá khứ , các trang web bắt đầu đăng những bài chủ đề 30 tháng 4 ,nhắc nhở chuyện mất nước , nhà tan . đi tù ,cướp của ban ngày , Chuyện củ thật khó quên ,và chứng nhân cả đời củng không ai muốn quên . Mỏi bận thứ 4 về , nhắc lại bao nhiêu chuyện tan tác khổ đau xảy ra , Trên bàn cờ chính trường quốc tế ,30 thang 4 chỉ là ngày định mệnh của một tiểu quốc bị cường quốc thí , mặc cho kéo hết vận mệnh người dân sinh sống ở miền nam VN mỏi từng lớp ai ai củng chịu mất mát loạn ly , cho đến bây giờ ,39 năm đả trôi qua , tháng 4 vẩn luôn luôn mang một nổi niềm khắc khoải ,da diếc , tưởng niệm đến những sự kiện xảy ra trong quá khứ với từng người nạn nhân .
Thang 4 củng mang đến một chút năng động cho một số người đồng hương ở Đức , tuy còn sức lao động nhưng xuốt nửa đời người làm thân con tâm không biết nhở tơ , nằm ăn dâu lười biến trên phương tiện an sinh quốc gia giàu có , ,mỏi tháng chờ tiền trợ cấp xả hội chuyển vào công sinh sống , chỉ chờ mỏi độ tháng 4 về , có dịp bắt đầu có tiếng động lao xao bàn tán về cuộc diễn hành biểu tình ngày quốc hận nơi nầy nơi nọ , tổ chức chương trình đêm không ngủ hay cầm cờ đi diễn hành nơi nào bắt mắt giới truyền thông ,qua đến tháng 5 , mội thứ sinh hoạt lại như củ , nằm nhà ngủ cuối tháng lỉnh tiền trợ cấp tiếp tục sống như mấy con xâu , nói chuyện tào lao thật hùng hồ , làm thơ Sát Cộng ,Hờn Vong Quốc thật khoa trương kiểu cách ,chưa bao giờ biết cống hiến một chút tài ,sức cho xả hội đang sinh sống đả cứu mang xuốt hơn 30 mấy năm qua , củng không mang đến thực lực một chút tình thương yêu nào giúp đở cho người thân , bạn bè ,đồng bào nghèo khổ ở cố quốc .
Đả nhiều năm ,tháng 4 không còn phải chỉ để mình hồi tưởng về biến cố xảy ra hay để tưởng nhớ những gì cả nhà hay cả miền nam bị mất mát , tháng 4 là tháng để có dịp đọc thêm nhiều bài mới từ đâu đó ,để biết thêm những sự số 30 tháng 4 việc và người trước đó chưa được biết , ( như đọc biết thêm bài viết về câu chuyện thượng sĩ Nguyễn Ngọc Ánh , đánh giặc và tự kết liễu đời vào ngày 1-5-1975 để đi theo vận nước mới đọc được biết mấy ngày trước ) là tháng để biết mình lại cộng thêm một năm sống ở xứ người , là dịp để nhìn lại và tự hỏi bản thân đả thật sự hoàn nguyện ,đạt được những lời hứa hẹn với cha mẹ trước khi rời xa nhà , vẩn còn sống có ý chí để đạp lên những nổi buồn không thể phôi pha , ,ai không từng một thời khóc cạn nước mắt vì nghịch cảnh ,ai không từng đau khổ bị đài đoạ tinh thần lẩn thể xác vì là dân chiến bại , những đứa trẻ giàu hay nghèo củng phải sớm bơ vơ tập sống làm người . Thang 4 ôn lại những lời dạy dỗ của ba , làm người phải biết hóa đau thương thành sức mạnh , lấy ý chí sống cho thật hay và thật tốt , là cách đền đáp cao siêu nhất với bất cứ mọi vấn đề đả xúc phạm hay tổn thương đến bản thân mình trong nghịch cảnh , khiến cho kẻ một thời muốn dùi dập ta thành tro thành bụi biết thất vọng ngỡ ngàng , phải biết cười tươi đẹp nhất với những kẻ một thuở chà đạp danh nghỉa ,cướp giựt ngang tàn phải hổ thẹn khi đối diện với mình , mấy thập niên bao nhiêu lần tháng 4 đả qua ,không ngờ sau nhiều năm ba mất ,những lời giản dạy ngày nào của ba vẩn còn ứng dụng và hiệu nghiệm mải trong hành trình nhân sinh của mình .
Tháng 4 là tháng đặc biệt nhớ nhà nhớ Cha Mẹ , nhớ thời đại niên thiếu , nhớ mái trường xưa , bạn học củ , nhớ những mùa hè được về cù lao sống thanh tịnh với bà nội ,những vườn cây ăn trái của bà được người làm chăm sóc phong mãn , nhớ cả hai hàng Phượng trồng trước sân trường KT trổ hoa đỏ rực khi trường sắp cho nghỉ hè ,tháng 4 nầy củng như nhiều những tháng 4 trước của từng năm ,mình chưa bao giờ quên vì sao phải sớm rời bỏ cha mẹ quê nhà , đến một nơi toàn người xa lạ để cầu sinh ,cho nên cố gắng kiên cường , sẻ không than gian trách phận đi trên con đường mình dả chọn .
Abonnieren
Posts (Atom)


