Mittwoch, 1. Juli 2015

1-7-2015 TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO


                   






TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO là truyền thống văn hóa Trung Hoa, mà cũng là truyền thống văn hóa tốt đẹp chung cho rất nhiều nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng giáo lí Khổng Mạnh, trong đó có Việt Nam ta, luôn luôn nêu cao cứu cánh hàng đầu của giáo dục là " TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN ". " LỄ " là phải biết Kính trên Nhường dưới, ngoài việc phải Hiếu Kính với Tổ Tiên Ông Bà Cha Mẹ ra, còn phải biết " TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO ". Vậy " Tôn Sư Trong Đạo " là gì ? Sau đây ta hãy thử...
          Chiết tự để tìm hiểu Ý NGHĨA gốc của 4 chữ TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO 尊師重道 :

    1. TÔN 尊 : Là chữ thuộc dạng Hội Ý. Hình dạng Tượng Hình Hội Ý lúc ban đầu như thế nầy :

骨文 金文 金文大篆 小篆 繁体隶书


       Ta thấy chữ đầu tiên là chữ KIM VĂN ĐẠI TRIỆN (  KIM VĂN 金文 là Văn tự được khắc trên Kim Loại, Kim Loại là chỉ những Chung và Đĩnh ngày xưa, nên KIM VĂN 金文 còn được gọi là CHUNG ĐĨNH VĂN 鍾鼎文 ), thì chữ TÔN gồm có 2 cái tay bên dưới nâng cái LY hình cái ĐĨNH nho nhỏ ở phía trên, đó là Ly Rượu, nâng lên để tế thần thánh hoặc để kính rượu cho những bậc bề trên, trưởng thượng. Nên...
       TÔN 尊 : Nghĩa gốc là Cái Ly đựng rượu, sau dùng chung để chỉ Các Dụng Cụ đựng rượu. Bây giờ cái CHAI đựng rượu cũng được gọi là Tữu Tôn 酒樽  ( 罇 ).( Chữ TÔN là Cái Chai,  được ghép thêm bộ MỘC là Cây hoặc bộ PHẪU 缶 là Đồ Gốm vào bên trái như trên 罇 ).
       Nghĩa phát sinh của chữ TÔN gồm :
       TÔN 尊 : Danh Từ : Chỉ người có địa vị hoặc vai vế cao, như TÔN TRƯỞNG, THẾ TÔN...
       Hình Dung Từ : TÔN QUÝ, TÔN TI ...
       Động Từ : SUY TÔN, TÔN TRỌNG, TÔN KÍNH, TÔN THỜ...
       Kính Từ : Gọi nhà của người ta là TÔN PHỦ ( Nhà mình thì là TỆ XÁ hoặc " HÀN GIA ở mái tây thiên, Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu " là lời của Đạm Tiên nói với Kiều trong mộng ).
       Gọi cha của người ta là LỆNH TÔN ( Cha của mình là GIA PHỤ ).
       Gọi Vợ của người ta là TÔN PHU NHÂN ( Vợ của mình là CHUYẾT KINH hoặc CHUYẾT THÊ hay " Má bầy trẻ ở nhà " )....
       Mạo Từ ( Article ) : NHẤT TÔN là Một Pho. Vd : NHẤT TÔN Phật Tượng 一尊佛像 là MỘT PHO tượng Phật.
        Chữ TÔN trong TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO là Động từ TÔN KÍNH.

  2. SƯ 師 : Chữ Hội Ý, gồm chữ Đoái 垖 bên trái, có nghĩa rất nhiều gò đất cao. Bên phải là chữ Táp 帀 có nghĩa là Bao Bọc. Hội Ý là Có rất nhiều gò đất bao bọc xung quanh, Ý chỉ Rất Nhiều, cũng có Ý chỉ Quân Lính đông. Theo diễn tiến Văn Tự như sau : 

甲骨文 金文 金文大篆 小篆 繁体隶书



目前所在的位置:師的甲骨文、金文、小篆在线转换
甲骨文 金文 金文大篆 小篆 繁体隶书


        
Nghĩa của chữ SƯ hiện nay là :
     * Người dạy dỗ chỉ bảo cho người khác : GIÁO SƯ, LÃO SƯ, SƯ PHỤ ( Thầy dạy ). SƯ ĐỒ là Thầy Trò.
     * Người giỏi về một kỸ thuật, nghệ nghiệp nào đó, như : LUẬT SƯ, KỸ SƯ, Y SƯ, KIẾN TRÚC SƯ...
     * Những từ gọi có liên quan đến Thầy Trò, như : SƯ MẪU, SƯ HUYNH, SƯ ĐỆ, SƯ MUỘI...
     * Từ dùng gọi Thầy Chùa và Thầy Pháp, như : THIỀN SƯ, PHÁP SƯ, ĐẠO SƯ...
    * Từ dùng cho quân đội, như : HỘI SƯ, XUẤT SƯ ( Xuất Quân ), SƯ ĐOÀN...
    * Từ dùng gọi Thủ đô của một nước, như KINH SƯ ( Kinh Đô ).
    * Một họ trong Bách Gia Tính : Họ SƯ.
      Chữ SƯ trong TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO có nghĩa là THẦY DẠY ( Bất cứ DẠY về cái gì ).

    3. Chữ TRỌNG 重 : Gồm chữ THIÊN 千 là Ngàn, chồng lên trên bộ LÝ 里 là Dặm. NGÀN DẶM là cái Dặm được lặp đi lặp lại nhiều lần, nên chữ 重 vốn đọc là TRÙNG, có nghĩa là TRÙNG LẮP. Ở đây ta chỉ xét cách phát âm là TRỌNG có nghĩa là NẶNG mà thôi. Về mặt diễn biến của chữ TRỌNG từ xưa đến nay như sau :

目前所在的位置:重的甲骨文、金文、小篆在线转换
甲骨文 金文 金文大篆 小篆 繁体隶书

          
Các nghĩa của chữ TRỌNG 重 gồm :

   * Hình Dung Từ : TRỌNG là Nặng, trái với KHINH là Nhẹ, như : TRỌNG LƯỢNG, TRỌNG LỰC...
     Chỉ Mức độ : như TRỌNG BỆNH, TRỌNG ÁN...
     Chỉ Số Lượng : như TRỌNG BINH, TRỌNG GIÁ...
     Chỉ Chủ Yếu : như TRỌNG ĐIỂM, TRỌNG TÂM...
     Cẩn thận, không khinh suất, như : THẬN TRỌNG, TỰ TRỌNG ...
   * Động Từ : Xem Nặng cái gì đó, như TRỌNG SẮC là chỉ xem trọng Sắc Đẹp. TRỌNG LỢI là chỉ xem trọng Lợi Lộc. TRỌNG ĐẠO là chỉ xem trọng Đạo Lý, Đạo Nghĩa.... Đây chính là Ý nghĩa của chữ TRỌNG trong 4 chữ " TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO ".

    4. chữ ĐẠO 道 : Chữ Hội Ý, gồm bộ Xước 辶 bên trái dưới, có nghĩa là Bước Đi, bên phải trên là chữ THỦ 首, có nghĩa là Đầu. Gom 2 Ý lại có nghĩa : Mở đầu cho những bước đi, đưa đến nghĩa ĐẠO là Con Đường. Chữ Đạo theo diễn tiến của văn tự như sau :

甲骨文 金文 金文大篆 小篆 繁体隶书

    
  Nghĩa của chữ ĐẠO :
   * ĐẠO là Con Đường, là Đường đi cụ thể, như ĐẠO LỘ, QUAN ĐẠO là Đường Cái Quan.
   * ĐẠO cũng là con đường đi của Tâm linh, như ĐẠO GIÁO, ĐẠO HẠNH, TU ĐẠO, HÀNH ĐẠO.....
   * ĐẠO là chuẩn mưc, phép tắc qui củ ở đời : ĐẠO ĐỨC, ĐẠO LÝ, ĐẠO NGHĨA... Đây chính là cái ĐẠO phải được xem trọng trong Thành ngữ : TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO.
   * ĐẠO GIÁO là một ĐẠO tu tiên có nguồn gốc từ ĐẠO LÃO của Trung Hoa, với các từ : ĐẠO SĨ, ĐẠO CÔ, ĐẠO QUAN là Chùa của Đao sĩ và Đạo cô tu.....
   * ĐẠO là Nói Rằng. VĂN ĐẠO là Nghe nói rằng .
      Đạo Đức Kinh của Lão Tử mở đầu bằng câu : " ĐẠO khả ĐẠO phi thường ĐẠO 道可道非常道。Có nghĩa là : Cái ĐẠO mà có thể thuyết giảng được thì không phải là cái ĐẠO thường. Chữ ĐẠO vừa có nghĩa là Đạo Giáo vừa có nghĩa là Thuyết Giảng  (nói).

            

         Trở lại với thành ngữ TÔN SƯ TRONG ĐẠO 尊師重道, thành ngữ nầy có xuất xứ từ 後漢書·孔僖傳 :“臣聞明王聖主,莫不尊師重道。” Hậu Hán Thư. Khổng Hi Truyện : " Thần văn minh vương thánh chúa, mạc bất tôn sư trọng đạo "( Thần nghe nói rằng những bậc minh vương thánh chúa, không ai là không Tôn Sư Trọng Đạo cả ! ). Vậy TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO là gì ?

       Trước tiên ta thấy thành ngữ nầy được thành lập bởi 2 Động từ là TÔN và TRỌNG, hợp cùng với 2 Danh từ làm Túc từ là SƯ và ĐẠO. Cho nên nghĩa đã khá rõ ràng rồi :
      TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO là " Tôn kính người thầy đã dạy ta học, và Trân trọng cái đạo lí mà thầy đã dạy cho ta ". ĐẠO LÝ ở đây bao gồm cả Kiến Thức, Đạo Đức và cả Đạo Nghĩa làm người nữa !

      Một điều cần đề cập nữa là : Muốn cho người học trò biết Tôn Sư Trọng Đạo, thì Ông thầy phải cho ra thầy, phải sống mẫu mực và phải biết Tôn Sư Trọng Đạo trước đã, nghĩa là phải Dĩ Thân Tác Tắc 以身作則, tức là phải lấy bản thân mình làm gương cho học trò noi theo. Cái nếp sống mẫu mực của người thầy gọi là nếp sống Sư Phạm đó vậy !

                                                              Đỗ C Đ





                                   

Dienstag, 23. Juni 2015

22 -6- 2015 Những Câu Nói Kinh Điển Từ Dalai Lama

                           














                                     


                                       


                                       




                                       




                                        




                                        




                                        




                                        




                                         




                                        




                                        



                                        


                                     


Samstag, 20. Juni 2015

19 - 6- 2015 Sức Mạnh Từ Thanh Tịnh

                              
                            


***“ Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo . Sức mạnh của kẻ  phá hoại gia đình người khác là tự bọc lộ tính  chất ngu dốt độc ác  của bản thân trước công chúng  , Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhịn  ,Sức mạnh của im lặng là biến hóa .........................
*****Chỉ đứng nhìn mà không phê phán, kiểm duyệt, giải quyết thì dần dần  sẽ thấy được sự vận hành, sự sinh diệt của các cảm giác, cảm xúc, tư tưởng,… Trong cái nhìn bất động đó thì các pháp sinh sẽ tự diệt chứ không cần cái ta can thiệp vào. Đó mới chính là thanh tịnh.

– Trong lành là tuyệt đỉnh của Giới.
– Tĩnh lặng là tuyệt đỉnh của Định.
– Sáng suốt là tuyệt đỉnh của Tuệ.


**** Trí tuệ không để bản ngã xen vào (= chấp thủ của các tư kiến) sự vận hành của các Pháp được gọi là Minh. Chỉ có Minh mới chấm dứt được toàn bộ tiến trình của bản ngã trói buộc con người, làm cho con người bị động trong vòng luân hồi sinh tử.
Viên Minh

 *********  Sự biểu hiện của nước là hình ảnh, là tấm gương của lối sống tùy duyên. Nước dù ở điều kiện nào, môi trường nào chúng vẫn thích ứng “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, dù thay đổi hình thức, tướng dạng nhưng không hề thay đổi bản chất của nó. Đây là tinh thần “Tùy duyên bất biến”, tùy duyên là để thuận theo nguyên lý cuộc sống, bản chất cuộc sống; sống Đời mà không mất Đạo, với tinh thần này  có thể hiện hữu khắp nơi cùng chốn, hiện hữu trong từ ý niệm, hiện hữu trong từng cử chỉ hành vi. Nếu có thể sống và vận dụng được tinh thần “Tùy duyên bất biến” thì chúng ta sẽ luôn luôn duy trì được ánh sáng của tự tâm, sẽ không bị những cám dỗ lôi kéo, không bị bất cứ hiện tượng sự vật nào làm cản trở hoặc đánh mất giá trị cuộc sống,  con đường lý tưởng của chúng ta.

  

                           
          



                      

                      

Freitag, 12. Juni 2015

13-6-2015 Hai Mặt

                







SỰ THẬT có 6 chữ
GIẢ DỐI cũng 6 luôn
Mặt trái và mặt phải
Trắng đen ôi khó lường!

TÌNH YÊU có 7 chữ
PHẢN BỘI cũng thế thôi
Chúng là hình với bóng
Rất dễ dàng đổi ngôi.

 

Chữ YÊU là 3 chữ
HẬN là ba, giống nhau.
Người say men Hạnh phúc
Kẻ thành Lý Mạc Sầu .

 

BẠN BÈ có 5 chữ 

KẺ THÙ đếm cũng năm
Hôm nao lời ngọt mật
Hôm nay chìa.. dao găm.

 

Từ VUI có 3 chữ
Tiếng SẦU cũng đồng như.
Quá vui thường mất trí,
Mất trí đời đổ hư.

 

Chữ KHÓC có 4 chữ
CƯỜI cũng vậy, giống in
Ai ” giòn cười, tươi khóc ”
Ấy cảm thọ nhận chìm .

Cuộc sống là hai mặt
Giới tuyến một đường tơ .
Chấp nhận mà không vướng
Nhẹ bước qua hai bờ .

 

Thích Tánh Tuệ

 

   

Mittwoch, 10. Juni 2015

11-6 -2015 Bài Viết Về LỄ CHA : YẾN THI của thày Đổ C Đ






          .........................
                    

           Chúa Nhật thứ ba của Tháng Sáu hằng năm, là ngày LỄ CHA ( Father's Day  ) của nước MỸ. Ngày LỄ CHA năm nay nhằm ngày Chúa Nhật 21 tháng 6 năm 2015.
           
           Ta thường gọi ngày LỄ MẸ là NGÀY HIỀN MẪU, nên khi đến ngày LỄ CHA thì rất nhiều người theo thói quen, thay chữ MẪU bằng chữ PHỤ, và gọi ngày Lễ Cha bằng NGÀY HIỀN PHỤ ??!!...

           Ngày Lễ Cha, Father's Day, không thể gọi là ngày HIỀN PHỤ được, vì Hiền Phụ 賢婦 là VỢ HIỀN, chớ không phải CHA HIỀN. Muốn nói Cha Hiền thì phải gọi là TỪ PHỤ 慈父, lấy trong thành ngữ  " Phụ Từ Tử Hiếu 父慈子孝 ", tương đương trong tiếng Nôm ta là " Cha Hiền Con Thảo."  Trong gia đình Phong Kiến ngày xưa, người Cha luôn luôn nghiêm khắc và nghiêm cẩn trong mọi hành vi cũng như sinh hoạt của gia đình, nên còn được gọi là NGHIÊM ĐƯỜNG, NGHIÊM PHỤ.  Lời dạy của Cha thì gọi là NGHIÊM HUẤN, như trong Truyện Kiều, khi Thúc Ông bắt Thúc Sinh phải bỏ cô Kiều, cụ NGUYỄN DU đã viết :

                      Thấy lời NGHIÊM HUẤN rành rành,
                     Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu.

           Nhưng bây giờ mà ta gọi như thế thì nghe nghiêm khắc và xa rời con cháu quá!   Còn một từ dùng để gọi cha ngày xưa nữa là XUÂN ĐƯỜNG (còn đọc là THUNG ĐƯỜNG) 椿堂. Theo sách Trang Tử, chương Tiêu Dao Du, thì XUÂN 椿 là loại cây cao bóng cả, tàng lá sum xuê, có tám trăm năm là mùa xuân, tám trăm năm là mùa thu, nên được dùng để ví với người cha là cột trụ chống đỡ và che chở cho gia đình.  Khi cô Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, thì chàng mới...

                        Rạng ra trình lại XUÂN ĐƯỜNG,
                 Thúc Ông cũng vội khuyên chàng quy gia.

          Sẵn trình bày luôn về từ dùng để chỉ Mẹ, đó là từ HUYÊN ĐƯỜNG 萱堂.  HUYÊN 萱 là một loài thảo mộc được trồng trong nhà như cây Trường sinh, lá thon dài, nở hoa màu vàng và cho hương thơm dìu dịu, ăn được, ta thường gọi là Hoa KIM CHÂM, dùng để chỉ sự dịu dàng của người mẹ nên ta có từ gọi chung CHA MẸ là XUÂN HUYÊN.  Khi hay tin Kiều đã bán mình chuộc cha, Kim Trọng đã vật vã khóc than đến nỗi " Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao ", khiến cho :

                       XUÂN HUYÊN lo sợ xiết bao,
                     Hóa ra khi đến thế nào mà hay !

           Xin được trở lại và nói thêm  về từ HIỀN PHỤ 賢婦 là VỢ HIỀN;   HIỀN 賢:  Ngoài nghĩa trái với Dữ là Hiền Thục ra, Hiền còn có nghĩa là GIỎI GIANG.  Ví dụ: Hiền Thần là Bề tôi giỏi để phò Vua giúp nước.  Hiền Tài là người có Tài Giỏi và đây cũng là một chức sắc Giỏi Giang trong Cao Đài Giáo. Còn...
          PHỤ 婦:  Đây là kiểu chữ HỘI Ý, được ghép bởi bộ NỮ 女 bên trái là Cô Gái, và chữ TRỮU 帚 bên phải là Cây Chổi  hàm ý là cô gái mà cầm cây chổi (để quét dọn nhà cửa) là đã trở thành người chủ của gia đình rồi, đã kết hôn rồi, nên PHỤ là Đàn Bà, là Người Vợ.  Vì thế mà HIỀN PHỤ là VỢ HIỀN.  PHỤ NỮ là chỉ chung tất cả CÁC BÀ CÁC CÔ có chồng hoặc " chổng chừa !". PHU PHỤ là Vợ Chồng.  Hồi nhỏ thường hay nghe Má tôi hát ru em như thế nầy:
                       Sông dài cá lội biệt tăm,
             Phải duyên PHU PHỤ ngàn năm em cũng chờ!
   Nên...
           HIỀN PHỤ 賢婦 : Chẳng những chỉ người đàn bà hiền thục, mà còn chỉ người đàn bà giỏi giang " Tướng phu giáo tử "  ( Giúp đỡ chồng và nuôi dạy con cái ).
          Ca dao của Việt Nam ta có câu :
                        Công cha như núi Thái sơn,
                Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra !
   Nhưng...

          Trong văn chương không thiếu những áng văn, những bài thơ ca tụng mẹ hiền, mà lại rất hiếm, rất khó kiếm được một bài thơ, một áng văn hay ca ngợi công cha, có thể sự dịu dàng hòa ái của bà mẹ gần gũi với con cái hơn là bộ mặt lúc nào cũng "Lập nghiêm" của ông cha.  Cha thì lo việc lớn hơn, ngoài việc duy trì và nuôi sống gia đình, lắm ông còn phải chăm lo việc nước, việc ngoài xã hội...  Nhưng cũng có những người cha có máu "giang hồ" thích lang bạt rày đây mai đó... Ta hãy cùng đọc một bài Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt của Đỗ Mục đời Đường để thắm thía hơn với cái máu "giang hồ" của các ông cha ngày trước...

      歸家                           QUY GIA
   稚子牽衣問,            Trỉ tử khiên y vấn
   歸來何太遲。            Quy lai hà thái trì ?
   共誰爭歲月,            Cộng thùy tranh tuế nguyệt
   贏得鬢如絲。            Doanh đắc mấn như ti
               杜牧                                       Đỗ Mục

Thích nghĩa :
QUY là về, GIA là nhà, QUY GIA là Về Lại Nhà.
   1. Câu 1: Trỉ là non, Tử là Con. TRỈ TỬ: không phải là con non mà là Con Thơ.  Khiên: là nắm, là níu, là dắt.  Y là Áo, Vấn là Hỏi.  Nghĩa toàn câu là :
                     "Con thơ níu áo hỏi"
   2. Câu 2: Quy là Về, LAI là Xu hướng Động từ, chỉ sự di chuyển gần đến người viết hoặc nói.  QUY LAI là Về lại, là Về "đây."  QUY KHỨ là Về "đi " (KHỨ chỉ di chuyển Xa người nói hoặc viết).  Hà là Sao? Thái là Quá.  Trì là Trễ, muộn. Nghĩa cả câu:
       "Sao muộn quá mới về lại nhà?"

   3. Câu 3: Cộng là cùng, chung.  Thùy là Ai?  Tranh là dành, giựt.  Tuế là Tuổi, là Năm.  Nguyệt là Tháng. 
Nghĩa cả câu :
        Cùng với ai dành giựt năm tháng, ý nói: "Cùng với ai sống đua chen trong những năm tháng đó?"

   4. Câu 4: Doanh là Lời, thắng, Ăn, thu hoạch.  Đắc là được. Mấn là Tóc mai.  Như là giống, giống như.  Ti là Tơ.
Nghĩa cả câu :
            (chỉ) lời được hai bên tóc mai trắng như tơ.

Diễn nôm :
                  Về Lại Nhà
            Con thơ trì áo hỏi
            Sao đi mãi đến giờ ?
            Cùng ai ngày tháng ấy
            Mà tóc đã bạc phơ!
Lục bát :
                  Con thơ níu áo hỏi cha
            Đi sao lâu quá, bỏ nhà bỏ con!
                  Cùng ai ngày tháng mõi mòn?
           Sương pha tóc trắng chẳng còn như xưa!

       Hai câu đầu là lời chất vấn, thắc mắc, thơ ngây nhưng lắc léo của con thơ.  Nhưng hai câu sau... hình như là lời than van, oán trách, khúc mắc, thở than của bà... nội tướng đã biết bao ngày khoắc khoải, mòn mỏi đợi chàng về!

       Trong ngày LỄ CHA, mong rằng các ông cha luôn luôn trân quý sự sum họp và tình cảm gia đình để gắn bó hơn với con cái và các thành viên trong đó, nhất là với người đầu gối tay ấp, sao cho...
                   Một nhà sum họp trúc mai,
            Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông!
                                                   (  Truyện Kiều )

        Năm nay là năm Mùi, năm con DÊ, trong bài viết hồi đầu năm về " Năm Mùi nói chuyện dê " tôi có nhắc một câu trong " Tăng Quảng Hiền Văn " là :
                  羊 有 跪 乳 之 恩 , 鴉 有 反 哺 之 義 ,
         Dương hữu qụy nhũ chi ân, Nha hữu phản bộ chi nghĩa,
                  你 及 他 未 及 ?
                 Nễ cập tha vị cập?
Chú Thích:
        Quỵ Nhũ: Quỵ là Quỳ, Nhũ là Vú. Động từ có nghĩa là Bú. Quỵ Nhũ là Quỳ xuống để bú.
        Bộ: là Mớm mồi cho ăn. Bộ nhũ: cũng có nghĩa là cho bú.
        Phản Bộ: là Mớm ngược lại cho ăn.
        Cập: là Bằng. Vị Cập là Chưa Bằng. Bất Cập là Không Bằng.

        
           Image result for 羊有跪乳之恩      Image result for 羊 有 跪 乳 

Nghĩa Câu:
         Con dê vì biết ơn của mẹ nên quỳ xuống mà bú. Con quạ có cái nghĩa là khi mẹ già thì nó đi kiếm mồi mớm ngược lại cho mẹ ăn. Bạn có bằng được chúng chưa hay là không bằng?

        Quả là một bài học luân lý và là một câu hỏi hóc búa khó trả lời ! Mong rằng những ai còn Cha còn Mẹ hãy ráng mà trân trọng !

        Câu nói trên cho ta biết Quạ và Dê là một CẦM một THÚ rất có hiếu với Cha Mẹ, nhưng trong đám Phi Cầm Tẩu Thú đó cũng có những con rất " bất hiếu ". Ví dụ như con Chim Én chẳng hạn .... Thường thì một đôi chim én sanh được 2 hoặc 4 trứng, nở ra 1 hoặc 2 cặp chim trống mái. Đôi chim cha mẹ rất tích cực, vất vả tìm mồi nuôi con cho khôn lớn, líu lo dạy hót dạy kêu, rỉa lông rỉa cánh. Khoảng 30 đến 40 ngày sau, khi chim con đã đủ lông đủ cánh, chim cha mẹ mới đưa lên cành tập bay. Sau vài vòng bay thử, thấy đã cứng cáp, đôi chim con bèn bay thẳng mất hút luôn để tự tìm tự do cho mình. Bỏ lại đôi chim cha mẹ chít chiu buồn bã gọi mãi mà con nào có về lại tổ cũ nữa đâu !  Đôi chim én nầy đã quên rằng, ngày xưa mình cũng đã bỏ cha mẹ mà bay đi như thế ! Thế mới hay...
          
          Sinh dưỡng đạo đồng, ơn Cha nghĩa Mẹ to lớn ngang bằng nhau, làm con phải hiếu thảo với cả Cha lẫn Mẹ. Có lắm người chỉ muốn con cái có hiếu với mình mà quên là mình cũng phải có hiếu với Cha Mẹ mình nữa, như đôi chim én nêu trên chẳng hạn !... Mời tất cả cùng đọc bài Ngũ ngôn trường thiên  YẾN THI của Bạch Cư Dị đời Đường sau đây ...
      

    燕詩                    YẾN THI
         白居易                        Bạch Cư Dị
 梁上有雙燕。     Lương thượng hữu song yến,
 翩翩雄與雌。     Phiên phiên hùng dữ thư.
 啣坭兩椽間。     Hàm nê lưỡng triện gian,
 一巢生四兒。     Nhất sào sinh tứ nhi.
 四兒日夜長。     Tứ nhi nhựt dạ trưởng,
 索食聲孜孜。     Sách thực thanh tư tư.
 青蟲不易捕。     Thanh trùng bất dị bổ,
 黃口無飽期。     Hoàng khẩu vô bảo kì.
 嘴爪雖欲弊。     Chủy  trảo tuy dục tệ,
 心力不知疲。     Tâm lực bất tri bì.
 須臾十來往。     Tu du thập lai vãng,
 猶恐巢中饑。     Do khủng sào trung ki ( cơ ).
 辛勤三十日。     Tân cần tam thập nhật,
 母瘦雛漸肥。     Mẫu sú sồ tiệm phì.
 喃喃教言語。     Nam nam giáo ngôn ngữ,
 一一刷毛衣。     Nhất nhất loát mao Y.
 一旦羽翼成。     Nhất đán vũ dực thành,
 引上庭樹枝。     Dẫn thượng đình thọ chi. 
 舉翅不回顧。     Cử xí bất hồi cố,
 隨風四散飛。     Tùy phong tứ tán phi.
 雌雄空中鳴。     Thư hùng không trung minh,
 聲盡呼不歸。     Thanh tận hô bất qui.
 却入空巢裹。     Khước nhập không sào lí,
 啁啾終夜悲。     Chu thu chung dạ bi.
 燕燕爾勿悲。     Yến, Yến nhĩ vật bi,
 爾當反自思。     Nhĩ đương phản tự tư.
 思爾為雛日。     Tư nhĩ vi sồ nhật,
 高飛背母時。     Cao phi bội mẫu thì.
 當時父母念。     Đương thì phụ mẫu niệm,
 今日爾應知。     Kim nhật nhĩ ưng tri !
                                             
DIỄN NÔM :

                 BÀI THƠ CHIM ÉN

          Trên rường nhà nỉ non đôi én,
          Bay song song sớm tối có nhau.
          Ngậm bùn kết cỏ trên cao,
          Bốn con mới nở lao xao đêm ngày.

          Bốn con nhỏ chít chiu trong tổ,
          Miệng đòi ăn chim chíp không thôi,
          Sâu xanh mẹ bắt mớm mồi,
          Bốn con luôn đói cha thời mõi mê.

          Miệng mỏ đã tái tê hết cả,
          Cố tìm mồi nên chả thấy chi.
          Thoắt đi, thoắt lại, lại đi.
          Sợ e con đói quản gì tấm thân.

          Ba mươi ngày ân cần nuôi nấng,
          Mẹ ốm dần con lớn thêm ra,
          Líu lo dạy nói dạy ca,
          Rỉa lông rỉa cánh bay qua bay vòng.

          Đến một hôm cánh lông đầy đủ,
          Đưa bốn con bay thử trên cây,
          Cất cao bay vút lên mây,
          Bốn phương theo gió lần này... bay luôn !

          Trống mái buồn kêu luôn luôn miệng,
          Kêu hết hơi con vẫn bặt tăm,
          Đành thôi về tổ âm thầm,
          Chiu chiu chít chit buồn lòng suốt đêm.
           .....................................

          Én ơi én, chớ nên buồn nữa,
          Hãy nhớ ngày xưa xửa chưa nhòa,
          Cái ngày én tập bay xa,
          Cao bay bỏ mẹ bỏ cha chẳng về.

          Lúc đó mẹ cha se sắt ruột,
          Dạ nhớ con não nuột ủ ê,
          Bây giờ én cũng một bề,
          Nhân nào quả nấy tái tê lòng nào ?!
                                              Đỗ Chiêu Đức diễn nôm.

         Mừng ngày LỄ CHA, mong rằng tất cả chúng ta đều hiếu thuận với Cha mẹ để làm gương cho con cháu. Đừng để như đôi chim én kia phải chít chiu buồn bã khi đàn con đã vổ cánh bay xa !...
        Chúc tất cả đều có một ngày LỄ CHA tuyệt vời !

                                                                  Đỗ C Đ

Montag, 8. Juni 2015

7 - 6- 2015 心灵的轮回







7-6-2015 心灵的轮回

 

                根据科学研究,我们身体上的细胞,没有一个是七年前的,换句话说,我们身体上的细胞每时每刻都在新陈代谢,七年就能使我们完全脱胎换骨一次,即是我们身体上的细胞没有一个是七年前的了.

 

       佛法认为整个生物界,从细胞结构,甚至更低级的生命单位或高级动物的人类,各种感受、认识等活动,时时刻刻都在迁流、生灭变化着。有关这种肉体上的生老病死,心灵上的生住异灭、循环流转、新陈代谢,宛如车轮回转的现象,就叫做轮回。甚至忽为人子、忽为人父的人伦关系,喜怒哀乐的感情变化,都是轮回的现象 .

 

         还有更是人的心境快乐时,生命状态就处于“天”的境界;喜乐参半时,生命状态就处于人的境界;有的人心境绝望或痛苦时,生命状态就处于地狱的境界;有的人被欲望支配而痛苦时,生命状态就处于畜生或饿鬼的境界........这样说来,其实佛教的轮回,无处不在 . 所以,想处在什么样的环境之中,是天堂?还是地狱?其实取决于自己。而不是下一世 . 一个人的生命会有怎样的历程,跟上帝或者说上天无关,而是跟这个人自身的性格密切相关 .

 

         穿越是书中的神话 , 这一刻 , 聚集所有自已的回忆, 让我隐隐觉得生命在红尘深处的流失 , 或者终究只是一个念头 , 估计因为身体的病障每天不死不活地过着给自己和家人带来很多的不幸 , 离失这个世界事实上是基于解脱了命运不幸的经历 .

 

感慨人生的短暂和无常,更觉得珍惜眼前生命中的人人,珍惜每一天 . 很多年前读过这一首词 .

 

       有一种感受总在难眠时,才承认是思念 ,
       有一种缘份总在梦醒后,才相信是永恒 ,
       有一种心情总在离别后,才明白是失落 ,
       有一种目光总在分手后,才相信是眷恋  .