Freitag, 25. April 2014

25-4-2014 Bài NĂM NGỌ NÓI CHUYỆN NGỰA của Thầy Đổ


 

Sent: Monday, April 21, 2014 8:53 PM
Subject:   NĂM NGỌ NÓI CHUYỆN NGỰA 



           Chuẩn bị từ sau Tết Dương Lịch, trước Tết NGUYÊN ĐÁN, nhưng cứ... lần lừa nấn ná mãi ... có lúc đã định buông xuôi luôn, nhưng còn tiếc của đời... mãi cho đến hôm nay mới cố gắng viết xong !  Thôi thì có còn hơn không...
           Xin kính gởi đến tất cả Quí Thầy Cô, Quí Bạn Học, Quí Thân Hữu cùng tất cả Các Em Học Sinh Thân Quí  đọc chơi tiêu khiển !
                                                                                      Nay kính,
                                                                                   Đ C Đ.

                  ......................................................................................



                             NĂM NGỌ NÓI CHUYỆN NGỰA 
                                
           


               Ngựa là con vật đứng hàng thứ 7 trong 12 con giáp, và là con vật gần gũi thân cận với con người nhất. Từ ngàn xưa, Ngựa đã được thuần hóa, cùng chung sống và cùng tiến hóa với con người qua các thời đại, nên những điều có liên quan đến ngựa trong cuộc sống nhiều không thể kể xiết. Trong phạm vi bài viết hạn hẹp nầy , tôi chỉ đề cập đến Một Phần của con Ngựa trong Văn tự và trong Văn học mà thôi.
Ngựa - Biểu tượng cho kinh doanh phát đạt | ảnh 1
                  
           Ngựa, từ Hán Việt là MÃ 馬. MÃ là loại chữ Tượng Hình trong Lục Thư gồm : Tượng hình, Chỉ sự, Hội Ý, Hài thanh, Chuyển chú và Giả tá. Vì là chữ Tượng hình nên ta thấy chữ Mã có ba nét ngang ở trên tượng trưng cho bờm ngựa đang bay về phía sau, và có  bốn chấm ở bên dưới, tượng trưng cho bốn cái chân của con ngựa đang chạy về phía trước, sau diễn biến và tiến hóa của chữ viết như sau.....

 甲骨文—馬字 金文—馬字 大篆—馬字  小篆—馬字
Giáp Cốt Văn            Kim Văn           Đại Triện            Tiểu Triện


 隸書—馬字 楷書—馬 宋體 – 馬字
       Chữ Lệ             Chữ Khải      Chữ Tống        
                                       
 Chữ Trên   COMPUTER   腦字體 – 馬字

       Theo Giáp Cốt Văn  ( Giáp là Cái Vỏ cứng được bọc ở bên ngoài, ở đây chỉ cái Mu Rùa. Cốt là Xương của các loại động vật. GIÁP CỐT VĂN là loại văn tự chữ viết được khắc lên trên Xương của động vật và trên Mu rùa ) mà các nhà Khảo Cổ Học đã tìm thấy được, thì chữ Mã được khắc như thế nầy :            
  甲骨文—馬字 :
 * GIÁP CỐT VĂN : Còn gọi là " Khế Văn " 契文, " GIÁP CỐT BỐC TỪ " 甲骨卜辭 hoặc " QUY GIÁP THÚ CỐT VĂN " 龜甲獸骨文, chỉ loại chữ ghi lại những việc bói toán trong cung ở cuối nhà Thương, là thể chữ viết được hình thành và có hệ thống sớm nhất của chữ Hán, nó là cái gạch nối giữa hai hệ thống Vẽ hình và phù hiệu ghi lại sự việc với Hệ thống chữ khắc trên kim loại đồng đen, là khởi thủy đầu tiên của Hệ thống tiếng Hán Hiện Đại.

 金文—馬字
 * KIM VĂN   金文 : Còn được gọi là Minh Văn 銘文 ( Chữ được khắc ) hoặc Chung Đỉnh Văn ( Chữ được khắc trên Chuông và Đỉnh ) là loại chữ của thời đại Đồ Đồng, phát xuất từ cuối đời nhà Thương và thịnh hành ở đời Tây Chu, ghi lại tất cả những sinh hoạt trong cuộc sống của thời đại nầy, nên còn được gọi là Tây Chu Kim Văn.

 大篆—馬字
 
 * ĐẠI TRIỆN : Là một dạng chữ viết sớm nhất của chữ Hán, thông dụng ở nước Tần thời Chiến Quốc, là tiền thân của thể chữ Tiểu Triện, còn mang  rất nhiều hình tượng của chữ Tượng Hình.



 小篆—馬字
 * TIỂU TRIỆN 小篆: là loại chữ mà Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất đất nước ( năm 221 trước Công Nguyên ) đã ra lệnh cho Thừa Tướng LÝ TƯ tiến hành chính sách " Thư đồng văn " 書同文 ( viết cùng loại chữ ) thủ tiêu các chữ dị thể của 6 nước để thống nhất chữ viết và cách viết chữ.
 隸書—馬字

* LỆ THƯ :( Chữ LỆ ) là do Tiểu Triện diễn biến mà thành, chủ yếu là kéo thẳng các nét cong queo của chữ Triện. Bắt đầu từ đời Tần, đến đời Hán mới định hình thành một thể chữ chính thức. Chữ LỆ làm cho chữ Hán cổ tiến thêm một bước dài trong việc phù hiệu hóa ngôn ngữ thành chữ viết, xa rời hẵn với loại chữ tượng hình.

 楷書—馬字

* KHẢI THƯ : Chữ KHẢI còn gọi là Chân Thư 真書 hoặc Chính Thư 正書 , bắt nguồn từ những năm cuối đời Đông Hán, lưu hành rộng rãi trong đời Ngụy Tấn. KHẢI có nghĩa là Khuôn Mẫu, cũng như chữ LỆ, chữ KHẢI là do các nét bút  ( bút pháp )  kết hợp thành một phù hiệu vuông vắn thành chữ viết, hoàn toàn thoát khỏi tự dạng tượng hình, là thể chữ Tiêu Biểu nhất cho chữ Hán Hiện Đại, còn được sử dụng tới ngày hôm nay.

 宋體 – 馬

 *TỐNG THỂ : Là thể chữ dùng để in ấn. Theo đà phát triển của kĩ thuật in ấn Trung Hoa, một thể chữ vuông vắn ngay ngắn được hình thành để thích ứng với nghề in ấn. Vì thịnh hành ở đời Tống, nên được gọi là Tống Thể.



電腦字體 – 馬字


             Bên trên là các kiểu chữ được sử dụng trên máy Vi Tính ( computer ) hiện nay , rất đa dạng và rất thông dụng.

             Quá trình diễn tiến của chữ MÃ từ TƯỢNG HÌNH đến hoàn chỉnh thành biểu tượng của chữ viết, đại khái như sau :




              馬,甲骨文 Chữ MÃ Giáp cốt văn : Mặt dài mắt to,lông bờm bay về sau, là hình tượng của động vật đuôi dài có móng金文 Đến Kim Văn, thì tự dạng chữ MÃ được đơn giản hóa thật nhiều, bỏ đi cái mặt dài mắt to tai vểnh ,Chỉ giữ lại phần giữa của Giáp Cốt Văn ,Đổi bụng ngựa  và bờm trên lưng ngựa  viết thành 。篆文 Chữ Triện : Kế tục và hoàn thiện hơn tự dạng của Kim Văn 承续金文字形。隶书 Chữ Lệ : Kéo thẳng ra các nét của chữ Triện, đuôi ngựa và chân ngựa  viết thành bốn chấm bên dưới  và nét cong xuống  thành 。行书 Chữ Hành : Kết hợp tự dạng của chữ Thảo  và Chữ Khải 楷书 biến bốn chấm thành một gạch ngang để viết cho nhanh。

              Như trên đã trình bày, chữ MÃ quả là chữ Tượng Hình tiêu biểu của Văn Tự Trung Hoa trong tiếng Hán Cổ cho đến hiện đại. Quá trình diễn tiến của chữ Mã cũng là quá trình diễn tiến của chữ Hán từ thượng cổ cho đến hiện nay.
              Chữ MÃ 馬 hiện diện rất nhiều trong cuộc sống của chúng ta trong quá khứ cũng như hiện tại. Trước tiên, MÃ là Ngựa, là con vật được xếp hàng thứ 7 trong Địa Chi của 12 con giáp. MÃ là một trong Bách Gia Tính mà ta gọi là Bá Tánh có họ MÃ. Mã Giám Sinh là cái tên mà ai cũng biết, kể cả giới bình dân ghiền hát Cải Lương cũng biết khi xem tuồng Vương Thúy Kiều. MÃ là con Ngựa trong cờ Tướng, đi theo hình Chữ Nhật 日, khi sắp bị chiếu bí thì nhảy sảng hình chữ ĐIỀN 田, nên mới có câu " Sự cấp mã hành điền " ( khi cấp bách thì Ngựa đi hình chữ Điền ), Ý nói : Lúc qúynh quáng thì người ta hay làm sảng.
              MÃ là con Ngựa Đỏ Xanh Vàng Trắng trong bài Tứ Sắc, mà tất cả từ trí thức cho đến bình dân, từ thành thị cho đến nông thôn đều mê mẫn ngày đêm không nghỉ !

                      
      




           Ngựa là con vật đứng đầu trong Lục Súc ( 6 con vật nuôi trong nhà là : Ngựa, trâu, dê, gà, heo, chó ). Đầu tiên, ngựa dùng để kéo cày, sau này mới chuyển qua kéo xe và đắc dụng trong công việc nầy cho đến thời cận đại khi máy hơi nước được phát minh. Mặc dù máy móc đã thay thế cho sức ngựa, nhưng vẫn không thoát khỏi từ MÃ LỰC, dùng sức ngựa để đo độ mạnh yếu cũa máy móc, giới bình dân thì gọi thẳng bằng một chữ NGỰA mà thôi : " Cái máy nầy " 2 Ngựa " đó bà con ! ". Ai đã từng học Trung Học ngày trước, thì chắc chắn học qua tác phẩm văn học bình dân bằng Văn Nôm nổi tiếng là Lục Súc Tranh Công, ta hãy nghe con Ngựa kể công đây...

             Tao đã từng, đi quán, về quê,
             Đã ghe trận đánh nam, dẹp bắc.
             Mỏi gối nưng phò xã tắc,
             Mòn lưng cúi đội vương công.
             Ngày ngày chầu chực sân rồng
             Bữa bữa dựa kề loan giá....

        Ngựa lại được trọng dụng và đắc dụng trong quân đội như con ngựa đã khoe ở trên : " Đã ghe trận đánh Nam dẹp Bắc ".... Từ ngàn xưa, bất cứ là quân đội của nước nào, Âu cũng như Á đều có đội KỴ BINH, nhất là đội THIẾT KỴ nổi tiếng của Mông Cổ, không những chỉ dọc ngang trên các thảo nguyên Châu Á, mà còn tung hoành lấn chiếm sang cả Châu Âu. Sống trên mình ngựa, đánh giặc trên mình ngựa, xưng hùng xưng bá trên mình ngựa, rồi... cũng chết trên mình ngựa luôn, nên ta mới có thành ngữ " Da Ngựa Bọc Thây " là thế !

               小人书之。后汉演义-马革裹尸

        Mới nghe qua, thì Thành ngữ nầy rất Nôm như tiếng Việt thuần túy, nhưng khi xét xuất xứ thì nó lại rất Hán. Da Ngựa Bọc Thây có xuất xứ là " MÃ CÁCH QUẢ THI 馬革裹屍 ", là lời nói của một danh tướng đời Đông Hán Mã Viện : " Làm trai phải chết ở biên cương, lấy da ngựa để bọc thây, chớ sao có thể chết ở trên giường với vợ con được chứ ?! ". Qua câu nói nầy, ta thấy con ngựa càng gần gũi thân thiết và gắn bó với con người biết bao, khi sống thì cùng với con người " đánh Nam dẹp Bắc ", khi chết, thịt ngựa là lương thực đở đói cho chiến sĩ, da ngựa thì để bọc thây khi chết ở sa trường, quả là một con vật gắn bó và cùng sống chết với con người !


         Còn một thành ngữ nghe rất Việt mà lại có gốc Hoa nữa là câu : " Ngựa quen đường cũ ", xuất phát từ điển tích " LÃO MÃ THỨC ĐỒ 老馬識途 " theo câu truyện sau đây : Tề Hoàn Công đem binh đi giúp nước Yên đánh bại được quân Sơn Nhung, trên đường về lại bị dẫn dụ lạc vào sa mạc Hàn Hải với gió cát mịt mù không nước uống, lạnh lẽo buốt giá không biết đường ra, quân sĩ kiệt quệ chết chốc rất nhiều . Tướng Quốc Quản Trọng mới tâu với Tề Hoàn Công về đặc tính nhận được đường về của loài Ngựa, bèn chọn một số ngựa già, thả cho chúng tự tìm lối ra, rồi ra lệnh cho toàn quân đi theo sau. Quả nhiên sau vài lần quanh quẹo đã ra khỏi được sa mạc hiểm ác kia.
          " Lão Mã Thức Đồ " là thành ngữ chỉ những con ngựa già có khả năng tìm về đường cũ đã đi qua, dùng để chỉ những người già dặn có kiến thức, có kinh nghiệm sống, có thể hướng dẫn ta đi những con đường đúng. Còn " Ngựa Quen Đường Cũ " của ta thì chỉ những người đã làm việc xấu việc sai, dù cho có cải hóa sửa đổi lại rồi, cũng dễ dàng đi lại con đường sai lầm cũ, tật xấu khó chừa ! 

        Còn một thành ngữ mà cả Hoa cả Việt đều sử dụng như nhau, Ý nghĩa như nhau, phát âm như nhau, đó là thành ngữ " THIÊN QUÂN VẠN MÃ 千軍萬馬 "  

      
        Ta không có dịch " Thiên Quân Vạn Mã " là " Ngàn quân muôn ngựa ", mà sử dụng thẳng thành ngữ Thiên Quân Vạn Mã để chỉ lực lượng quân đội hùng hậu với một khí thế to lớn để áp đão đối phương.

                Tương tự như " Thiên Quân Vạn Mã ", ta còn có thành ngữ " CHIÊU BINH MÃI MÃ " là chiêu mộ binh lính và mua thêm ngựa, thêm khí giới để thành lập lực lượng quân đội định làm việc lớn .


          Qua 2 thành ngữ nêu trên, cho ta thấy có những thành ngữ Hán Việt rất thông dụng trong tiếng Việt, đến nổi ta không cần phải dịch nó ra tiếng Nôm nữa mà sử dụng thẳng thừng luôn những thành ngữ đó một cách rất tự nhiên. Sau đây là một thành ngữ về ngựa nữa mà ta chỉ cần nói trại đi có một từ thôi, đó là " TÁI ÔNG THẤT Mà 塞翁失馬 ", tức là " TÁI ÔNG MẤT NGỰA " đó ! Theo điển tích thì câu truyện như sau...

                              塞翁失马4

          TÁI ÔNG là Ông già ở vùng biên tái, mà cũng có thể là Ông già họ TÁI, rất chuyên về ngựa. Một hôm, con ngựa quí nhà ông bỗng nhiên chạy mất. Hàng xóm mọi người cùng đến chia buồn. Ông cười bảo : Đây chưa chắc việc không vui. Mấy hôm sau, con ngựa của ông trở về, lại dẫn theo một con ngựa quí khác. Mọi người hay tin lại đến chúc mừng. Ông bảo, đây chưa chắc là việc đáng mừng. Quả nhiên vài hôm sau đó, con ông tập cưởi con ngựa đó, bị nó quăng cho té què chân. Mọi người lại cùng đến an ủi, chia buồn. Ông lại bảo : Đây vị tất đã là chuyện buồn. Năm sau, giặc đánh vào vùng biên tái, tất cả thanh niên đều phải lên đường nhập ngũ tòng chinh, chỉ có con trai ông vì bị què chân nên được ở lại, khỏi phải ra chiến trường.
           Đây là câu truyện Ngụ ngôn trong sách Hoài Nam Tử 淮男子, cho ta thấy chuyện đời may rủi vô chừng, họa phước khó mà lường trước được. Có lắm chuyện tưởng như rủi mà lại may, tưởng như phước mà lại là họa... cho nên ta phải để lòng rộng mở, khoáng đạt, bình tĩnh mà ứng phó những tình huống khôn lường trước được nầy.

          Ngoài các thành ngữ nêu trên, ta còn có rất nhiều thành ngữ có liên quan đến ngựa được sử dụng thẳng trong văn chương tiếng Việt mà khỏi cần phải diễn nôm gì cả. Ví dụ như :

                               Mã đáo thành công.
                               Ngưu đầu mã diện.
                               Thanh mai trúc mã.
                               Đơn thương độc mã.
                               Trường đồ tri mã lực.
                               Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã
                               Nhất ngôn kÝ xuất, Tứ mã nan truy...

        Thành ngữ " THANH MAI TRÚC MÃ " ( Mai xanh và Ngựa trúc ) được sử dụng rộng rãi và rất phổ biến trong văn chương Việt Hoa, mãi cho đến hiện nay, trong đàm thoại thông thường người Hoa vẫn còn sử dụng thành ngữ nầy : " Hai đứa nó là Thanh mai Trúc mã với nhau đó !".



            
           

         Điển tích Thanh Mai Trúc Mã xuất xứ từ bài thơ Ngũ Ngôn trường thiên nổi tiếng " Trường Can Hành " 長干行 của Thi Tiên LÝ BẠCH 李白 đời Đường, bài thơ tả lại đôi vợ chồng trẻ từ nhỏ ở chung xóm, cùng chơi đùa vô tư với nhau, trong đó có 2 câu :

                    Lang kị TRÚC MÃ lai,               郎騎竹馬來,
                    Nhiễu sàng lộng THANH MAI.  繞床弄青梅。
   ( Chàng cởi ngựa trúc đến, vòng quanh miệng giếng mà ghẹo cành mai
xanh ) .
         Vì là bài thơ kể lại mối tình cảm khắng khít của một đôi trai gái đã chơi đùa và quen nhau từ tấm bé, rồi lớn lên thành chồng thành vợ với nhau, cho nên thành ngữ Thanh Mai Trúc Mã dùng để chỉ những cặp vợ chồng đã quen biết nhau từ thuở nhỏ. Sau này dùng rộng ra để chỉ những người yêu nhau từ trước lâu rồi , sau đó mới lấy nhau. Từ đó, từ TRÚC MAI hay MAI TRÚC còn để chỉ tình nghĩa vợ chồng mà Nguyễn Du đã tận dụng đến 4 lần : 2 lần với Kim Trọng và 2 lần với Thúc Sinh trong TRUYỆN KIỀU như sau ...

          Lần thứ nhất : Khi cô Kiều bán mình chuộc tội cho cha, đã nhắn lại với Kim Trọng là :
                          Tái sinh chưa dứt hương thề,
                          Làm thân trâu ngựa đền nghì TRÚC MAI.
       
          Lần thứ hai : Trước đêm phải lên đường theo Mã Giám Sinh, cô Kiều đã trối lại với Thúy Vân là :

                           Hồn còn mang nặng lời thề,
                           Nát thân bồ liễu đền nghì TRÚC MAI.

          Lần thứ ba : Dùng để tả lúc Thúc Sinh chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh là :
                          Một nhà sum họp TRÚC MAI
                          Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông

          Lần thứ tư : là khi Thúc Sinh trở lại tìm Thúy Kiều :

                          Tưởng rằng MAI TRÚC lại vầy
                          Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau.....

     

             Nhân năm NGỌ lại nhắc đến TRUYỆN KIỀU của Cụ NGUYỄN DU, ta thử điểm lại những từ MÃ và NGỰA được nhắc trong Truyện Kiều cho vui nhé !...

         Đầu tiên là trong Tiết Thanh Minh với...
                          Dập dìu tài tử giai nhân,
                NGỰA XE NHƯ NƯỚC, áo quần như nêm.

       Thành ngữ NGỰA XE NHƯ NƯỚC có xuất xứ từ Hậu Hán Thư trong câu : " Xa như lưu thủy, mã như du long 車如流水,馬如游龍。 " ( Xe như nước chảy, Ngựa tợ rồng bơi ). Chỉ xe ngựa qua lại đông đúc xôn xao huyên náo, chỉ sự náo nhiệt của nơi phồn hoa đô hội.
  
             Kế đến là sự xuất hiện một cách hào hoa phong nhã của Kim Trọng với...
                  TUYẾT in sắc NGỰA câu dòn,
                  Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.

        Ngựa trắng như tuyết là Bạch Mã, chỉ màu lông của Ngựa, chớ không phải là một loại ngựa, nhưng nếu ta thêm vào giữa một chữ thì nó sẽ trở thành một loại ngựa quí, đó chính là BẠCH LONG MÃ, con ngựa huyền thoại do Tiểu Bạch Long chuyển hóa mà thành,đã chở Đường Tam Tạng đi Tây Phương thỉnh kinh suốt 13 năm trời  trong tác phẩm nổi tiếng TÂY DU KÝ của Ngô Thừa Ân.


        Ngựa trắng còn là Bạch Mã của Bạch Mã Hoàng Tử với nàng Công Chúa ngủ trong rừng. Đông Tây đã gặp nhau ở con NGỰA TRẮNG nầy. Chàng Kim chính là Bạch Mã Hoàng Tử của nàng Kiều đó vậy !  Nhưng đến cuối ngày vẫn phải chia tay để cho...

                    Khách đà lên Ngựa người còn ghé theo...  
  
          Rồi khi " Thề hoa chưa ráo chén vàng " thì chàng Kim lại phải ...

                 Buộc Yên quảy gánh vội vàng...
                                        để đến Liêu Dương hộ tang cho chú.

          Đến khi gia biến của Thúy Kiều, ta lại thấy...

                Đầu trâu mặt NGỰA ào ào như sôi.

          ĐẦU TRÂU MẶT NGỰA là thành ngữ phát xuất từ Phật giáo với Địa Ngục Luân Hồi, với Đầu Trâu Mặt Ngựa là Câu hồn Sứ giả  chuyên bắt hồn và làm công việc hành hình những người có tội và gian ác. Sau dùng rộng ra để chỉ những bọn côn đồ, tay sai ác ôn chuyên làm hại và hành hung người khác. Thành ngữ nầy nguyên gốc là NGƯU ĐẦU MÃ DIỆN 牛頭馬面

          Tương truyền, lúc đầu Phật giáo chỉ có Ngưu Đầu, khi truyền vào Trung Hoa mới phát sinh thêm một Mã Diện nữa cho đối xứng với cách nói của người Hoa. Theo Thiết Thành Nê Lê Kinh : A BÀNG khi là người vì không có hiếu với cha mẹ, cho nên khi chết mới bị đày phải đeo cái đầu trâu, làm công việc tuần tra và bắt hồn những người tới số chết. Còn có tài liệu cho rằng : Mặt Ngựa là Mã Diện La Sát, nhưng trong Phật giáo chính tông Ấn Độ thì không có nói đến, chỉ trong Phật giáo Mật Tông thì có nhắc đến một MÃ DIỆN MINH VƯƠNG có mặt ngựa, nhưng đây lại là một Bồ Tát, chứ không phải là Sai Nha.

         Để diễn tả cảnh chia tay não lòng của cô Kiều, khi phải đau lòng mà đi theo Mã Giám Sinh, NGUYỄN DU đã viết :

                      Đoạn trường thay lúc phân kì,
                      VÓ CÂU khấp khểnh bánh xe gập ghềnh.

         VÓ CÂU hay VÓ NGỰA là chỉ BƯỚC CHÂN của NGỰA. VÓ còn dùng để chỉ CHÂN NGỰA, như trong câu : Con ngựa bị ngã chổng BỐN VÓ lên trời !. Còn...
         CÂU 駒 : là Ngựa Non, Ngựa Trẻ, Ngựa Khỏe, Ngựa Mạnh, Ngựa Giỏi. Thêm vào chữ LONG, ta có từ LONG CÂU 龍駒, còn được đọc trại thành LONG CU, là loại ngựa hay được dùng cho Hoàng tộc, cũng dùng để chỉ loại ngựa mạnh mẽ như rồng, và còn được gọi là LONG MÃ, như BẠCH LONG MÃ còn gọi là TUYẾT LONG MÃ , con ngựa của Thường Sơn Triệu Tử Long cởi trong Tam Quốc diễn nghĩa, đã xông xáo trong 80 vạn quân Tào ở Trường Bản cứu ấu chúa A Đẩu đưa về cho Lưu Bị.
         CÂU là Ngựa, nên ngựa quí được gọi là LƯƠNG CÂU 良駒 hoặc BẢO CÂU 寶駒. Như Hãn Huyết Bảo Câu, con ngựa có mồ hôi đỏ như huyết tương, có thể chở cả Hoàng Dung và Quách Tĩnh mà ngày đi được cả ngàn dặm. CÂU là ngựa chạy nhanh, nên ta có thành ngữ " Bóng CÂU qua cửa sổ " để chỉ thời gian vô tình qua rất nhanh không chờ đợi ai cả. Thành ngữ nầy phát xuất từ thành ngữ gốc là " LƯƠNG CÂU QUÁ KÍCH " 良駒過隙 hoặc BẠCH CÂU QUÁ KÍCH 白駒過隙, có nghĩa : " Ngựa giỏi màu trắng thoáng qua KHE cửa " diễn tả còn nhanh hơn là qua " Cửa sổ " của ta nữa !
          Ta gặp lại từ VÓ CÂU khi Hoạn Thư khuyên Thúc Sinh về Lâm Chuy để viếng Thúc Ông :
               Được lời như cởi tấc son,
               VÓ CÂU rung rủi nước non quê người.
    và khi...
               VÓ CÂU vừa gióng dặm trường,
               Xe hương nàng cũng thuận đường qui ninh.
           ... " QUY NINH " để mét má với " Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen ! ".. .. 

                Khi cô Kiều hỏi về biện pháp mà Sở Khanh sẽ dùng để giải cứu mình, thì được chàng họ Sở trả lời :

              Rằng ta có NGỰA TRUY PHONG,
              Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi.

        TRUY là Rựơt đuổi, PHONG là Gió. Ngựa TRUY PHONG là Ngựa rượt đuổi theo gió, Ý là Ngựa chạy nhanh như gió, nên tất cả ngựa chạy nhanh đều có thể gọi được là Ngựa Truy Phong. Sở Khanh khoe có ngựa chạy nhanh như gió  để... rủ cô Kiều bỏ trốn ! " Ba mươi sáu chước chước nào là hơn ? ". Cho nên mới :

              Cùng nhau lẻn bước xuống lầu,
              Song song NGỰA trước NGỰA sau một đoàn. 

           Nhưng... TRUY PHONG Mà 追風馬 là tên của con ngựa của Ngũ Vân Triệu ( thường bị đọc trại đi thành Ngũ Vân THIỆU )  trong truyện THUYẾT ĐƯỜNG Diễn Nghĩa . Con ngựa chạy nhanh như gió giống như tính cách của chủ nhân nó, làm việc gì cũng mau mắn. TRUY PHONG Mà nầy ngày có thể đi ngàn dặm, đêm có thể đi thêm 800 dặm đường nữa ! 
    

          Vì là phương tiện giao thông, nên hình ảnh con ngựa còn là hình tượng của sự chia tay, khi cô Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, NGUYỄN DU đã viết :

             Người lên NGỰA, kẻ chia bào,
             Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
    và là...
phương tiện hành hung đã giúp cho Khuyển Ưng bắt cóc cô Kiều :

             Vực nàng lên NGỰA tức thì,
             Buồng đào viện sách bốn bề lửa dong.

   và cũng là...
hình ảnh hào hùng, dứt bỏ nhi nữ thường tình, của người đi làm việc lớn :

              Trông vời trời bể mênh mang,
              Thanh gươm yên NGỰA lên đàng thẳng dong.

    ... để đưa đến một kết quả có hậu là...
hình ảnh của sự long trọng tiếp đón khi mà Từ Hải đã :

             Kéo cờ lũy, phát súng thành,
             Từ Công ra NGỰA thân nghinh cửa ngoài. 
                                         ... để rước nàng Kiều về dinh...  
           Với " Râu hùm hàm én mày ngài " ta thấy hình tượng của Từ Hải uy vũ như là hình tượng của một Trương Phi, nên... con Ngựa mà Từ Hải cởi chắc cũng phải thuộc loại NGỰA Ô TRUY như của Trương Phi cởi vậy. Ô TRUY MÃ 烏追馬 là loại ngựa có bộ lông đen tuyền, chạy nhanh như điện xẹt, là một trong những loại ngựa quí hiếm.               
赤兔马  赤兔馬 
            Nhắc đến Ô TRUY MÃ của Trương Phi lại làm cho ta nhớ đến XÍCH THỐ MÃ 赤兔馬 của Quan Vũ ( tức Quan Công, Quan Vân Trường ) . XÍCH là đỏ thẩm, THỐ là Con Thỏ. Ngựa XÍCH THỐ là loại ngựa có màu đỏ thẩm như một loại thỏ vùng nhiệt đới, là một trong 4 loại ngựa quí xưa nay, là một nhánh của Hãn Huyết Bảo Mã. Nhân gian thường truyền tụng câu " Nhân trung Lữ Bố, Mã trung Xích Thố " 人中呂布,馬中赤兔. Có nghĩa : " Người thì có Lữ Bố, Ngựa thì có Xích Thố ", Ý muốn nói : Là người thì phải oai phong vũ dũng như là Lữ Bố vậy, còn là ngựa thì phải mạnh mẽ dẽo dai như là ngựa Xích Thố vậy. Cho thấy Xích Thố là một loại ngựa quí biết chừng nào ! Tương truyền...

      XíCH THỐ là loại ngựa do giao dịch với Tây Phương qua con đường tơ lụa mà có được. Khi Đổng Trác chuyên quyền nhà Hán đã chiếm hữu con ngựa nầy. Trác lại tặng lại ngựa nầy cho Lữ Bố khi Bố giết Đinh Nguyên để về với Trác. Sau Bố bị Tào Tháo giết chết vì thua trận ở Từ Châu, Tháo bèn đem ngựa nầy tặng lại cho Quan Vũ, muốn Vũ theo về với mình, nhưng không được. Cuối cùng Quan Vũ bị Đô Đốc Đông Ngô là Lữ Mông đánh bại, thua và chết ở Mạch Thành. Ngựa XÍCH THỐ mất chủ lần nầy, nhịn ăn và chết luôn.
         QUAN VŨ được vua Hán phong là Hớn Thọ Đình Hầu, khi chết đi được người đời lập miếu tôn thờ tôn xưng là QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN, thường được gọi tắt là QUAN THÁNH hoặc QUAN CÔNG. Biểu tượng của Quan Công là thanh Thanh Long Yễm Nguyệt Đao và Ngựa XíchThố.
         
            Như ta đã biết, Triệu Vân, Triệu Tử Long cởi con Bạch Long Mã, Trương Phi cởi Ngựa Ô Truy , Quan Công cởi ngựa Xích Thố, còn Lưu Bị thì cởi Ngựa gì ? Xin thưa Ngựa  ĐÍCH LƯ 的盧馬.

               

          ĐÍCH LƯ là loại ngựa có đốm trắng phía trước trán, mọi người đều cho là ngựa sát chủ, nhưng khi Lưu Bị cởi, thì lại được nó cứu mạng cho, khi bị Thái Mạo và Bằng Việt rượt đuổi, Đích Lư bị sa xuống Đàn Khê ở phía tây ngoài thành Tương Dương, Lưu Bị đã than rằng : " Hôm nay nguy mất rồi, Đích Lư ơi, hãy cố gắng lên ! ". Con ngựa bèn cong bốn vó búng mạnh lên cao 3 trượng vượt qua khỏi dòng Đàn Khê, cứu Lưu Bị thoát nạn. Từ đó, Đích Lư cũng được xem là một loại ngựa quí, một loại Thiên lí mã như những Thiên lí mã quí hiếm khác.

  Cuối TRUYỆN KIỀU được kết thúc bằng một thành ngữ có từ Mã rất có hậu, đó là khi Kim Trọng thi đậu làm quan đã nhớ đến Thúy Kiều :

                         Ấy ai dặn ngọc thề vàng,
               Bây giờ KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG với ai ?!
         
                                  
      
          KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG 金馬玉堂, thành ngữ có xuất xứ từ đời Hán. KIM MÃ là KIM MÃ MÔN, là Cửa Kim Mã, nơi mà các Học Sĩ đợi chiếu chỉ của nhà vua ban xuống. NGỌC ĐƯỜNG là NGỌC ĐƯỜNG ĐIỆN, nơi nghị sự của các Học Sĩ, là Hàn Lâm Viện của các Hàn Lâm Học Sĩ.
        Thành ngữ Kim Mã Ngọc Đường dùng để chỉ sự đổ đạt vinh hiển làm quan, đắc Ý vì công thành danh toại.

        Một chữ NGỰA nữa được sử dụng ở cuối TRUYỆN KIỀU cũng rất có hậu, đó là...
        Khi Kim Trọng và Vương Quan cùng được bổ nhiệm về nhiệm sở mới :
                         Sắm sanh xe NGỰA rộn ràng,
                         Hai nhà cùng thuận một đàng phó quan.

để rồi tìm lại được Thúy Kiều và một đoạn kết Đại Đoàn Viên hoàn toàn có hậu " Hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai " là :

                        Một đoàn về đến quan nha,
                        Đoàn viên lại mở tiệc hoa vui vầy !

        Để kết thúc bài viết nầy, xin kính mời tất cả cùng đọc các bài thơ Xướng Họa hồi đầu năm GIÁP NGỌ 2014 nầy về...CON NGỰA với các Thành Ngữ liên quan...

XƯỚNG :

    CẢM ĐỀ XUÂN CON NGỰA

" Ngựa quen đường cũ " lại qui hồi,
" Giáp Ngọ " xuân về luận chút chơi !
" Mặt ngựa đầu trâu " còn những kẻ,
" Bọc thây da ngựa " biết bao người !
" Ngựa non háu đá " ôi thừa sức,
" Mã đáo thành công " khéo đổi đời !
" Làm ngựa làm trâu " rồi cũng thế,
" Bóng câu cửa sổ " thoáng qua rồi !

                                         Đ C Đ
CÁC BÀI HỌA :

        NGỰA TRONG KIỀU
                                                     
"Ngựa xe như nước" tiết xuân hồi
"Sắc ngựa câu giòn" Trọng dạo chơi"
"Xuống ngựa tới nơi" tình đã mến
"Khách đà lên ngựa" mắt theo người
"Ngựa truy phong" Sở Khanh lừa khách
"Ngựa đón nghênh" Từ Hải lụy đời
 Tất cả mười ba lần chữ ngựa
"Sắm sanh xe ngựa " nạn qua rồi ./.
                                           C T


 

 
GIẢI QUẺ ĐẦU NĂM NGỰA
" Cỡi ngựa xem hoa " chỉ một hồi
" Thiên binh vạn mã " thắng như chơi
" Đơn thân độc mã" đành thua thiệt
" Xuống ngựa lên voi" - ấy phận người 
" Ngựa chạy có bầy " luôn gắn bó
" Ngựa hươu thay đổi " - chuyện bao đời
" Thẳng thừng ruột ngựa " nhiều va chạm
" Ngựa bất kham " - ôi, hết thuốc rồi  !
                                        L M
_____Giáp Ngọ Phiếm Đàm

"Tân Niên Giáp Ngọ" tiết xuân hồi
" Mất ngựa Tái Ông " phiếm luận chơi
" Hãn Mã Long Câu " ai kiếm được ?
" Ngựa Hồ Chim Việt " cố khuyên người
" Mã kia tầm mã " gieo nguồn sáng
" Ngưu lại tầm ngưu " đổi mệnh đời
" Lắm tật ngựa hay thường khó bảo
" Bát mã truy phong " đến lúc rồi.
                                          Q Đ



                                                                                                                                  Đ C Đ



Donnerstag, 24. April 2014

24-4-2014 Nổi Niềm Mùa Phục Sinh


Mùa Lể Phục Sinh đả qua , không giang vẩn còn phản phấc dư âm   màu sắc của cảnh  lể , nhiều nhà vẩn còn treo đầy hoa và trứng  trước  cửa , mùa Phục Sinh năm nay thời tiết củng như bao nhiêu năm tuần hoàn  giống nhau , ngày thứ sáu sáng mưa chiều u ám ,thứ bảy bắt  đầu trời trong  dần , qua  chủ nhật nắng  lên cao và đến thứ hai thì nắng  chối chang như mùa hè , hiện  tượng của lể Phục Sinh luôn  hiện hữu qua thời tiết thiên nhiên nhiệm màu , luôn mang niềm tin đến cho mọi người biết  niềm vui của vạn vật Phục  Sinh .
 
               Thật ra ,dù thời tiết thật sự đả diễn ra huyền dịu  như mọi năm , nhưng mùa lể Phục Suinh năm nay có nhiều gia đình rất đau khổ , ly tán , chiếc máy may  hãng hàng không Mả Lai chở hành khách lẩn phi hành đoàn  vẩn biệt vô âm tích  , người nhà của nạn nhân đang khổ sở chờ mong sự phát hiện mới , Chiếc tàu Sewol chở du khách của Nam Hàn bị chìm giữa biển cạn , đại đa số khách tử nạn là các học sinh trẻ  đang trên đường đi nghỉ dưỡng sức ,ngày lể Phục Sinh nhìn các cảnh  thân nhân khóc oánthảm thiết  trên truyền hình , tâm trạng cảm không ra hy vọng của dấu vết Phục Sinh   nào   đến với  thân nhân  người  hoạn nạn  . Ba từng nói mình là loại người ngoại cương nội nhu , trên đường đời sẻ bị nhiều  cảm xúc  ảnh hưởng  ,thường  bị thiệt thoài với người quen ,bạn bè vì lòng tốt lệch lạc ,  không ai hiểu thấu lòng con gái hơn cha  mẹ , đả bao nhiêu lần thiệt thoài nhiều trên đường đời  , vẩn luôn  tự mình an ủi dù  có gặp phải điều gì nguy khốn nhất , trời cao vẩn hiểu thấu mọi việc  và luôn che chở ưu đãi cho bản thân và gia đình hết lòng   . Từ lúc bắt đầu đi học , rời xa cha mẹ  quê nhà vì hoàn cảnh bắt buột  , đến bây giờ có sự nghiệp đứng trong xả hội , tuy luôn  sống với tính cách mạnh mẻ ngoài đời , nhưng trong thâm tâm vẩn hay  vướn mắc những niềm đau của thân nhân , người quen ,đau vì nổi đau của người mình thân mến ,buồn cùng nổi buồn của những người đả có khoản đời một thời rất thân cận và thương kính với nhau , khổ tâm khi người  thân thương đả vì định mệnh  hay bản tính  yếu mềm ,   bất đất vỉ  tự dùi   gánh nặng  đau thương  vào   thân của người thân ,họ hàng ,bè bạn .
 
          Mình nhớ  Dung lắm , nổi nhớ dai vẳng  gần một năm rồi  chưa nói được với ai ,đặc biệt vào mùa lể Phục Sinh  nầy , người đả có thời là em dâu thứ 10 , cùng mang một họ chồng rồi quen biết thân thích với nhau  ,  đến năm 2006 Dung ly vị mới lấy lại họ  của cha mẹ đẻ , đả một năm rồi  Dung không muốn liên lạc với bất cứ người thân quen nào ,   bởi cái khổ đau bị chồng củ tái bội bạc , khi mang hết lòng tin tưởng người chồng củ đả ly vị bao nhiêu năm  trời ,  tái hợp lại mấy năm trước cùng nhau làm ăn , nuôi ước vọng hai đứa con trai có cha có mẹ đầy đủ sun túc ấm cúng  ,được  học  đến nơi thành người có bằng đại học , đến  khi làm ăn thừa ra tiền của , thì củng là lúc chồng củ lại xuất thêm   một lần chiêu phản bội vợ củ  ,   gôm góp  phần tiền của mới tạo ra để thỏa mãn  lòng riêng , làm một chuyến du lịch về Việt Nam hồi năm trước , đến nổi nhà hàng  phải đóng cửa  đầu năm ngoái , kéo dài mỏi vấn đề  hệ lụy chi phí thủ tục  , người thân còn lại của Dung phải gánh vác  vì trước kia  lấy danh tín  đứng ra bảo  đảm , khiến hai đứa con  không còn nơi tin tưởng ,  đau thương phủ xuống đầu hai bà mẹ ruột mẹ đở đầu của Dung .  Bây giờ  Dung và con trai út như  biến mất trong người quen , không ai biết mẹ con Dung có khỏe không ,có  đang bị bệnh vị ứng như thường năm không ,có sống đầy đủ hay cần gì , Chỉ có Long con trai lớn đả  thoát ly gia đình 3 năm trước của Dung còn liên lạc  với con gái nhỏ ,mong con gái chọn được trường đại học ở  miền trung để dọn lên đó hai anh em có thể sống chung chăm sóc lẩn nhau , mùa hè năm rồi có hai đứa cháu cùng bạn gái  từ Đan Mạch bay qua Đức ở chơi hai tuần , Dung củng không lên tiếng  hỏi thăm, khác với bản tính thường tình của Dung là một người  luôn đầy lòng yêu thương  con cháu người thân hay bạn bè , là người sống   không ai tìm ra khuyến điểm đối với trong họ hàng hay người quen.
 
          Hơn một năm rồi ,không ai biết Dung ra sao , kể cả Vân ở FF người hay liên lạc các chị em dâu với nhau nhất củng không biết tin Dung , quá khứ  Vân củng  từng là em dâu thứ 7 trong nhà chồng , Âm Sai Dương Trật ,không có kẻ thứ 3 xen vào gia đình củng ly vị một cách thất thường 3 năm về trước, nếu như mình đả buôn bán được 21 năm ,thì Dung hơn kinh nghiệm mình một năm ,nhưng gián đoạn vì hai lần đóng cửa  , ngày xưa mỏi lần bán  song lể hay cuối tuần , dù đêm khuya mệt mỏi  Dung vẩn gọi điện hỏi thăm có đông khách  không chị ,có mệt không chị , chúc chị ngủ ngon ,hay báo cho biết có gì đặc biệt về nghề nghiệp chung ngành , đả 9 năm Dung không còn gọi vào đêm như vậy nửa ,củng gần hơn năm nay , mình như bị mất đi một  em gái chân tình ở xứ  Đức  ,chúng mình đả từng ôm khóc với nhau vì chung một chuyện buồn , âm thầm chia sẻ những ý kiến về  việc bất đồng chính ý của cha mẹ chồng làm với bầy cháu và mấy con gái bên quê nhà ,  cùngkhuyến khích  nhau trên đường lập nghiệp vì nghề nhà hàngthu81c khuya cực nhọc ,  đặc biệt Dung chỉ dẫn mình tận tình về cách pha Capucino , làm hoa rằng trên mặt cho đẹp mắt với khách , Dung còn là người Thím tốt bụng , có lòng bênh vực con cháu như khi con gái lớn theo cha mẹ về VN thăm họ hàng  hai bên , nhất định không chịu ở đêm bên nhà chồng , khóc mải và theo bà ngoại  cùng  dì Út trở về trong ngày nhà ông bà ngoại  ngủ , cam chịu sống cô thân xa lạ với nhà bà ngoại không có cha mẹ mấy ngày , bị cô hai gọi điện qua nhà Dung chưởi con gái lớn là đồ Ngu mất Góc  v...v cho chồng Dung nghe , Dung nghe qua rồi lần đến nhà chơi khi cả nhà từ VN trở qua , Dung dẫn con gái  đi ăn kem và mua cho con mấy món quà đắc tiền của Diddl , nói riêng với mình  là con cháu  nó hiền và ngoan đẹp như vậy mà nhẩn tâm tốn tiền điện thoại để mắn chưởi nó ngu ngóc ...( tại vì  mỏi lần cô hai từ VN gọi điện qua thì nhà Dung phải trả tiền điện thoại . qua Đan Mạch thì cha má củng phải trả như vậy xuốt thời gian cha mẹ chồng định cư bên ĐM  .)
 
       Năm nay là năm Ngựa ,thật bất hạnh cả nhà  mình đón giao thừa và ăn Tết ta ở trong bệnh viện HD ,nhưng củng   mai mắn có sự nhiệm màu khi trải qua  hai lần  phải   mổ đi mổ lại   trong não bộ của chồng lấy sạch máu bầm ra ,  mà chồng vẩn bình phục khỏe lại rất huyền diệu không thể nào không tin cò thiên thần đả hộ thân cho chồng  được . Trong người quen còn có hai đứa em dâu hờ cùng tuổi Ngọ , Dung ở Đức và Nga ở ĐM , Ngọ vào năm Giáp hay có chuyện phân tranh , đa sự khổ sở ,đầu năm xem quẻ cho nhiều người thân ,thấy bóng dán của những án  mây mù đang xoay chuyển dần theo vận mệnh người trong năm tuổi ,củng có những 5 lần  thứ sáu  thần thoại của trong năm Ngọ xuất hiện một cách thần kỳ mang may mắn đến cho tuổi Ngọ và Tuất ,Dần , là thứ sáu  4-4-, 6-6-,  8-8 ,  10-10 , 12-12 , bao nhiêu trăm năm mới có sự kỳ diệu trùng hợp như trên , thật sự muốn biết tin  Dung như thế nào , dọn nhà đi đâu rồi , để kịp cùng chia sẻ những ngày tiếp theo của 5 ngày thần kỳ nầy ,  Dung là người tốt , nhất định những ngày huyền cơ  nầy có duyên lớn mang điềm tốt đến với Dung ,như có duyên với Thomas tuổi Dần chồng em Trinh vậy .( đầu năm  Ngọ vợ chồng Trinh đi bệnh viện chở mình về , ngồi chung bàn ăn khuya nghe  nói năm Ngọ hợp với tuổi Dần của Thomas ,chỉ cho biết ngày nào là tam hợp ,Thomas vào ngày Tuất đi đánh một ô lotto ,trúng được một chút xíu tiền ,nên bây giờ cầm tờ giấy các ngày tháng hợp của năm Ngọ  mình  ghi  sẵn  cho gắn trên tường nhà ,  để mỏi lần đến ngày thì  lấy tiền trúng đi  mua  Lotto tiếp  ,Thomas  nói có trúng thì lấy ra làm từ tiện một phần ,kiếp sau có  con có  cháu  cho đầy đủ niềm vui  . kiếp nầy   vì lấy vợ muộn , em gái mình  không  sinh cho  Thomas đứa con nào hết  .) Mình củng vững tin những người sinh năm 1966 ,  mạng Thiên Hạ Thủy ,dù phải trải qua bao nhiêu khổ cực , đau khổ  cảnh nào , qua được rồi vẩn xuông xẻ phú quý  bất tận về già .
 
       Năm 2012 ,đầu năm côi quẻ cho Dung và chồng củ ,căn dặn nhất định không được có chuyện  đi xa nhà , sẻ mang đến rất nhiều  nạn xấu ,Dung không cản được chồng củ , thấy buôn bán dư ra  tiền , nhất định gạt anh gạt vợ để về VN một chuyến cho thỏa mãn ,cuối cùng trở qua đủ thứ vấn đề phát sinh ,cuối năm 2012 , nhà hàng mới mở đã đóng cửa một cách vô duyên khi đang có khách thường xuyên lai dãn ,báo hại cái hồ cá thừa ra của nhà hang mình , cất dưới kho gần 10 năm  không xài tới ,  có lần chồng  định tặng Cha Hải nhưng Cha nói lớn quá  không có chỗ  đặc để  , thấy Dung mở lại nhà hàng  Tâm An  ,   vợ chồng hớn hở lau chùi khiêng lên xe chở xuống cho nhà hàng mới của   Dung  ,chồng tốn cả  buổi chiều đến tối mới gáp  đặc song mọi thứ việc  ,  cho mấy con cá Koi   được có chỗ rộng rải bơi trong hồ kiến lớn , thay bỏ cái bồn nhỏ tí của chủ trước để lại, thật không ngờ số phận về sau của chiếc bồn kiến lớn đó phải chịu cảnh vào tay người xa lạ . Lúc đó Dung nói Dung tin quẻ ,nhưng làm sao cản được , cả anh năm ( chồng mình ), còn không nói , thì em làm sao nói bây giờ . Sự thật là không cần người ngoài nói hay anh em xen vào xen ra nói gì , người trong cuộc tự phải biết cam đảm ,cương quyết ,  nhu nhược hay yếu đuối chỉ càng làm lở rối lên thêm , Dung là người nhu mì , nên bị người  ta dùng khuyết điểm nầy  lợi dụng đến tận  xương máu kể cả của người thân .
 
 
    Nói hoài vẩn nói không hết nổi  đau mùa Phục Sinh năm nay , nhớ mải những kỷ niệm ân tình  với nhau hơn 20 mấy năm dài  ,thật sự nhà ai củng có chuyện buồn vui , chỉ khác biệt ở chỗ nên buồn hay không cần phải buồn thôi , không biết bao giờ Dung mới chịu liên lạc lại với mọi người  thương mến Dung ,  trong năm tuổi càng lo lắng cho sức khỏe của Dung hơn , ai củng biết thời gian không quay đầu trở lại , nhưng  vẩn hy vọng Dung có thể quay đầu lại tìm những người quen củ ,để chia sẻ những đều mới lạ  , hay ít nhất  củng làm được mỏi khi thật buồn ,còn có người bạn nầy   nghe Dung kể lể , không làm được chị  em bạn dâu thì làm  bạn bè ,  và củng muốn nói cho Dung biết ,trên đời nầy bị người ta lừa gạt tuy  có đáng buồn ,  tự không đối mặt được với thật tế ngoài đời thì càng đáng buồn hơn . Thật sự bây giờ không biết phải làm sao khi nghỉ đến Dung .
 
 
 
 

Dienstag, 22. April 2014

22-4-2014 Giản Về Bài Thơ " Hoàng Hạc Lâu " Của Thầy Đổ






HOÀNG HẠC LÂU và NHỮNG LÂU ĐÀI LIÊN QUAN
      
               Nhân dịch bài thơ " Đăng Hoàng Hạc Lâu " của Cụ Phan Thanh Giản, Tôi muốn giới thiệu sơ lược về ngôi lầu nổi tiếng cổ kim nầy, và những bài thơ, giai thoại liên quan....

              Hoàng Hạc Lâu ( HHL ) nằm ở trên Hoàng Hạc Cơ của Xà Sơn thuộc đất Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc. Được xây dựng từ năm Hoàng Võ thứ 2 của nước Đông Ngô thời Tam Quốc ( 223 sau CN ). Theo sách " Nguyên Hòa Quận Huyện Đồ Chí " ghi lại : " Tôn Quyền khi xây Cố thành ở Hạ Khẩu, vì thành tây giáp Trường Giang, góc Giang Nam lại có bờ đá lớn, nên xây lên một lầu cao để quan sát, gọi tên là HHL . Lầu được xây dựng cho mục đích quân sự. ". Nhưng theo sách " Cực Ân Lục " ghi lại, thì HHL là do dòng họ Tân Thị xây lên để làm tửu lâu.

              Qua các triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, trước sau được tu sửa đến 10 lần, nhưng cuối cùng vẫn bị hũy ở đời vua Quang Tự thứ 10 ( 1884 ). Từ đời Bắc Tống cho đến khi bị hũy, HHL từng là Đạo Tràng lớn của Đạo giáo ( Lão giáo ). Là nơi truyền đạo của tiên ông Lữ ( Lã ) Động Tân ( một trong Bát Tiên ), tương truyền, Tổ Sư Lã Động Tân đã cởi hạc thăng thiên trong ngày 20 tháng 5 ở HHL, nên nơi đây trở thành thánh tích của Đạo Giáo từ đó.
 

dcd_HHL_Yellowcrane.jpg
 鹤樓                            HOÀNG HẠC LÂU
        昔人已乘黃鶴去,        Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
       
此地空餘黃鶴樓。
        Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
       
黃鶴一去不復返,
        Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
       
白雲千載空悠悠。
        Bạch vân thiên tải không du du
       
晴川歷歷漢陽樹,
        Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thọ
       
芳草萋萋鸚鵡洲。
        Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
       
日暮鄉關何處是,
        Nhật mộ hương quan hà xứ thị
       
煙波江上使人愁。
        Yên ba giang thượng sử nhân sầu
                             
崔 
                                               Thôi Hiệu
Bài diễn nôm Lục Bát của Thi sĩ Tản Đà :

                               Hạc vàng ai cởi đi đâu
                               Mà đây Hoàng Hạc riêng Lầu còn trơ
                              Hạc vàng đi mất từ xưa
                              Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
                               Hán Dương sông tạnh cây bày
                               Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
                               Quê hương khuất bóng hoàng hôn
                               Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai !...
 
Quả là cảnh tình hợp nhất, tình cảnh tương liên, hòa hợp thành một bức tranh tuyệt tác... Thảo nào mà khi đến đây, nhìn lên vách thấy bài thơ nầy, Thi Tiên Lý Bạch đã phải quẳng bút mà than rằng :
                        Nhởn tiền hữu cảnh đạo bất đắc          眼前有景道不得
                       Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu           
颢题詩在上頭
Nghĩa :
Trước mắt có cảnh mà nói chẳng nên lời, vì Thôi Hiệu đã đề thơ ở phía trên đầu ta rồi ! Vì Lý biết chắc rằng, nếu mình có miễn cưỡng làm thơ, thì chắc chắn chẳng bao giớ bằng được bài thơ mà Thôi Hiệu đã làm, nên thôi. Nhưng nỗi lòng ấm ức vẫn cứ mãi âm ĩ trong tâm, cho nên khi đến đất Kim Lăng, lên ngắm cảnh trên Phụng Hoàng Đài, ông mới xúc cảnh sinh tình, mà làm nên bài thơ " Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài " rất xuất sắc, gieo vần và âm hưởng đều tương tự như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Phải chăng để giải tỏa đi cái ấm ức bấy lâu nay ở trong lòng ?. Ta hãy cùng đọc bài thơ này nhé :

                                                         
登金陵鳳凰台                Đăng KIM LĂNG PHỤNG HOÀNG ĐÀI
        
                         
鳳凰台上鳳凰游,
      Phụng Hoàng Đài thượng Phụng hoàng dudcd_HHL_3.jpg
        
鳳去台空江自流。
      Phụng khứ đài không, giang tự lưu
       
吳宮花草埋幽徑,
        Ngô cung hoa thảo                                        mai u kính
       
晉代衣冠成古邱。
      Tấn đại y quan thành cổ khâu
        
三山半落青天外,
      Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
       
二水中分白鷺洲。
      Nhị thủy trung phân Bạch lộ châu
       
總為浮雲能蔽日,
      Tổng vị phù vân năng tế nhật
        
長安不見使人愁。          Trường An bất kiến sử nhân sầu !
Phụng Hoàng Đài ở Kim Lăng.
Diễn nôm :
                         Phụng Hoàng Đài trước phụng hoàng chơi
                         Phụng đã biệt tăm, sông vẫn trôi
                         Hoa cỏ cung Ngô đà vắng vẻ
                         Y  trang nhà Tấn cũng xa rồi
                         Ba núi lưng trời như ẩn hiện
                         Hai dòng sông nước rẻ đôi nơi
                         Cũng bởi mây mù che mặt nhật
                         Trường An chẳng thấy dạ bồi hồi !
      So với " Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu " thi bài nầy ngụ ý xâu xa hơn, thâm trầm và có chiều sâu hơn, kỹ thuật cũng nghiêm cẩn hơn, nhưng thơ của Thôi Hiệu lại khoáng đạt hơn, trực tả cảnh trí trước mắt, hơi thơ liền lạc đi một mạch từ đầu đến cuối, và " đi " thẳng vào lòng người đọc !.... Hai bài đều có cái hay riêng, nhưng sao ta vẫn thấy Hoàng Hạc Lâu như vẫn thanh thoát và gợi cảm hơn... Có phải chăng... tại Hoàng Hoạc Lâu gần gũi, thân thiết với người đọc hơn là với Phụng Hoàng Đài ?!!!....

              Không riêng gì Lý Bạch, còn có rất nhiều thi sĩ đương thời ngấm ngầm ganh tỵ với bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Họ không ganh ghét, mà chỉ muốn chứng tỏ tài năng của bản thân mình, vì địa vị và tài hoa của họ cũng không thua Thôi Hiệu chút nào cả.!. Trong số những thi sĩ " ngấm ngầm " nầy, ta thấy có Vương Xương Linh, tác giả của bài " Khuê Oán " nổi tiếng với " Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu !....". Ông đã làm bài " Vạn Tuế Lâu " với đủ cả âm hưởng và vần điệu của " Hoàng Hạc Lâu ". Nào, ta hãy cùng đọc và tìm hiểu bài thơ nầy nhé !....
                           
萬歳楼                         VẠN TUẾ LÂU

                    
江上巍巍萬歳楼。    Giang thượng nguy nguy Vạn Tuế Lâu  

                   
不知経歴幾千秋。    Bất tri kinh lịch kỷ thiên thu  
                  
年年喜見山長在。   Niên niên hỉ kiến sơn trường tại 
                  
日日悲看水独流。   Nhật nhật bi khan thủy độc lưu 
                  
猿狖何曾離暮嶺。   Viên dứu hà tằng ly mộ lĩnh 
                  
鹭鷀空自泛寒洲。       Lô tư không tự phiếm hàn châu  
                  
誰堪登望雲煙裏。   Thùy kham đăng vọng vân yên lý 
                   
向晩茫茫發旅愁。        Hướng vãn man man phát lữ sầu
                                        
王昌齡                                Vương Xương Linh. 
 Thích nghĩa :
                Vạn Tuế Lâu cao cao ngất nghểu trên bờ sông Trường Giang, không biết là trải qua mấy ngàn thu rồi. Nhưng, vẫn còn mừng vì mỗi năm đều trông thấy núi xanh vẫn còn đó, chỉ buồn là mỗi ngày đều thấy dòng nước âm thầm lặng lẽ trôi. Bầy khỉ vượn vẫn luyến lưu chưa từng rời khỏi đĩnh núi mỗi khi chiều xuống, cũng như đàn cò kia vẫn luôn luôn bay lượn vô tư lự trên bãi sông lạnh lẽo. Ai là người có thể leo lên đứng trên lầu cao nầy, nhìn vào trong khói mây mờ mịt mỗi buổi chiều, mà không thấy lòng trổi dậy một nỗi buồn lữ thứ tha hương ?!
dcd_HHL_4.jpgDiễn nôm :
                              Ngất nghểu trên sông Vạn Tuế Lầu
                              Mấy ngàn năm cũ vẫn cao cao
                              Mừng trông núi biếc còn trơ mãi
                              Buồn ngắm sông côi vẫn chảy mau
                              Lũ vượn luyến lưu chiều núi thẳm
                              Đàn cò bay lượn bãi sông sâu
                              Nào ai lên gác trông mây khói
                              Chiều xuống mênh mông lữ khách sầu !




            Mặc dù không so được với Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, và Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài cũa Lý Bạch, nhưng đây cũng là một bài thơ hay tả lại cảnh trí của  một Danh Lâu thuở xưa ở trên Tây Nam thành của Phủ Trấn Giang thuộc Tỉnh Giang Tô.

             Còn rất nhiều thơ tả lại " Tứ Đại Danh Lâu " 
四大名楼 (  Đằng Vương Các , Hoàng Hạc Lâu, Nhạc Dương Lâu và Phù Dung lâu ) . Nhưng vì bài viết đã quá dài và ý của bài nầy là chỉ muốn đề cập đến những bài thơ có liên quan đến Hoàng Hạc Lâu mà thôi....

              Xin hẹn lại bài kế tiếp. Trân trọng.    Đ C Đ

 

Freitag, 18. April 2014

18-4-2014 人生勇於面對


有肚量去容忍那些不能改變的事;
有毅力去改變那些可能改變的事;
有能力去發現那些可有可無的事;
有智慧去分辨那些非此即彼的事;
有恒心去完成那些看似無望的事;
有勇氣去面對那些已經做錯的事。



不要輕易抱怨,就會感覺快樂一點,
不要輕易喊苦,就會感覺幸福一點,
不要都在發牢騷,就會感覺自在一點,
哭聲少一點,笑聲大一點,快樂就會久一點。