Lúc nhỏ nhà nghèo, mồ côi cha, Đinh Lan phải đi
chăn DÊ để nuôi mẹ. Mỗi ngày, mẹ phải xách cơm ra đồng cho Đinh Lan ăn. Tánh háu
đói lại nóng nảy. Hôm nào mẹ mang cơm ra trễ Đinh Lan đói quá hóa giận, cầm roi
chăn dê đánh mẹ, nên bà mẹ rất sợ... Một hôm, Đinh Lan quan sát thấy tất cả dê
con khi bú mẹ đều quì 2 chân trước xuống, chợt động lòng nghĩ rằng : Dê còn có
hiếu, biết được công ơn của mẹ thế kia, sao ta lại nở đánh mẹ ta thế ?! Trong
lòng rất hối hận, định đợi mẹ xách cơm ra để xin lỗi mẹ. Nào ngờ hôm ấy bà mẹ
mang cơm ra trễ, xa xa trông thấy mẹ, Đinh Lan bèn chạy mau đến định xách hộ giỏ
cơm trên tay của mẹ, nhưng lại quên vứt bỏ cây roi chăn dê. Bà mẹ thấy con cầm
roi hùm hổ chạy a đến, sợ quá, quăng giỏ cơm mà chạy....
Đinh Lan càng chạy nhanh hơn, miệng lại kêu to : Mẹ ! Mẹ !
Bà mẹ càng sợ hơn, nên khi đến bờ sông, bí quá, bà bèn nhảy luôn xuống sông khi
nước đang chảy xiết. Đinh Lan bèn nhảy theo định vớt mẹ lên, nhưng không còn kịp
nữa, nước đã cuốn mẹ đi mất rồi. Mò mãi chỉ vớt lên được có khúc gỗ của một gốc
cây già. Đinh Lan bèn đem về nhà nhờ người khắc thành tượng CHA MẸ mà thờ phượng
như truyện ta đã được học sau đây :
TRUYỆN THỨ XII: Đinh Lan
Người đất Hà Nội ( tỉnh Hà Nam hiện nay ), đời Đông Hán,
mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, khi trưởng thành, nhớ công ơn cha mẹ, thuê thợ tạc
tượng cha mẹ bằng gỗ để thờ phượng. Ngày dâng hai bữa cơm, tối đến lại lo quạt
màn, sửa soạn gối chăn, hầu hạ chăm nom in như hồi cha mẹ còn sống. Phụng thờ
như vậy trong mấy mươi năm. Về sau, vợ Đinh Lan sinh chán nản, lại dùng kim châm
vào kẻ tay trượng gỗ xem có gì lạ không. Không ngờ nơi ấy cứ nhỏ từng giọt máu
tươi xuống mãi.
Đến bữa, Đinh Lan bưng cơm vào cúng,
nhìn thấy tượng gỗ rươm rướm nước mắt, kẻ tay lại chảy máu. Ông biết là vợ đã
châm kim vào tay cha mẹ, liền đuổi bỏ người vợ ngay.
Trong Chương Trình Cổ Văn của lớp Đệ Thất ngày trước (
lớp 6 sau này ), có phần học về tác phẩm Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝 của LÝ VĂN PHỨC
李文馥. Bài nầy đã được ông diễn ra Quốc Âm bằng thể thơ Song Thất Lục Bát như sau
:
Hán
Đinh Lan thuở còn thơ ấu,
Bóng xuân huyên khuất dấu non xanh.
Đến nay
tuổi đã trưởng thành,
Cám công sơn hải, thiệt tình trân cam.
Tưởng dung
mạo khắc làm mộc tượng,
Cứ bữa thường phụng dưỡng như sinh,
Khi chăn
gối, buổi cơm canh,
Mấy mươi năm, vẫn lòng thành trước sau,
Phải người
vợ kính lâu nên trễ,
Thử lấy kim châm kẻ ngón tay
Bỗng đâu giọt máu chảy
ngay,
Ai hay tượng gỗ lâu ngày thiêng sao ?
Khi đến bữa chồng vào đặt lễ
Mắt tượng rơi hàng lệ chứa chan
Xét xem mới biết nguồn cơn,
Nỗi bừng
lá giận, dứt tan dây tình.
Há phải nhẫn, mà đành phụ nghĩa,
Hiếu với
tình nặng nhẹ phải cân,
Cho hai thành hẳn lên thần,
Há rằng u hiển, mà
phân vân, tồn.
Thật ra trong Nhị Thập Tứ Hiếu có
mấy truyện không nên cho học sinh học chút nào cả, Đinh Lan là một trong những
Truyện đó. Cái anh chàng nầy vừa dị đoan mê tín, vừa vô tình vô nghĩa vô lí vô
vị. Ai đời hằng ngày bỏ công đi chăm sóc hầu hạ 2 cái tượng bằng gỗ, rồi lại vì
chuyện dị đoan vô lí của 2 tượng gỗ mà đuổi đi người vợ là con người thực tế
bằng xương bằng thịt đã cùng nhau đầu gối tay ấp, đồng cam cộng
khổ...
Trong TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN, một tác phẩm huấn mông ( giáo
dục trẻ em ) có từ đời nhà Minh, tập hợp lại tất cả những câu nói hay được đúc
kết bởi kinh nghiệm trong cuộc sống thực tế, có câu :
羊 有 跪 乳 之 恩 , 鴉 有 反 哺 之 義 ,
Dương hữu qụy nhũ chi ân, Nha hữu phản bộ chi nghĩa,
你 及 他 未 及 ?
Nễ cập tha vị cập ?
Trở lại thời Chiến Quốc với điển tích NĂM BỘ DA DÊ, kể về Bách ( Bá
) Lý Hề 百里奚 ( 700-621 trước Công Nguyên ) là người nước Ngu, gia cảnh cơ hàn,
ba mươi tuổi mới lấy vợ, sanh con đầu lòng xong, Bá Lí Hề mới từ giã vợ con lên
đường lập nghiệp, nhà chỉ vỏn vẹn còn có con gà mái, nhưng làm gà xong lại không
có củi để nấu, vợ phải chẻ cả cánh cửa tre để làm củi nấu gà làm tiệc tiễn chồng
ra đi tìm sự nghiệp. Tội nghiệp, bà phải đợi đến 40 năm sau chồng mới thành đạt
làm quan..... Bà Lí Hề ra đi lưu lạc khắp nơi, chăn dê rồi chăn trâu với người
bạn nối khố tên là Kiển Thúc ở nước Tấn...
Năm 655 TCN, Tần Mục công sang nước Tấn, hỏi cưới Mục
Doanh làm phu nhân. Bá Lý Hề cũng theo Mục Doanh về nước Tần. Giữa đường, Bá Lý
Hề bỏ trốn sang đất Uyển, bị dân biên giới nước Sở bắt được và giam giữ. Tần Mục
công nghe Bá Lý Hề là người hiền tài, bèn sai người sang chuộc về nước, nhưng sợ
người nước Sở biết ông là người giỏi mà không cho chuộc, nên chỉ dùng Năm Tấm Da
Dê theo giá chuộc một nô lệ để chuộc. Bá Lý Hề được về nước Tần. Năm đó ông đã
hơn 70 tuổi.
Tần Mục công đích thân ra đón Bá Lý Hề, và cùng bàn
quốc sự suốt ba ngày. Sau đó, vua Tần phong ông làm Thượng khanh, cai quản quốc
chính, gọi là Ngũ Cổ Đại Phu 五羖大夫 . (Ngũ Cổ tức là năm tấm da dê). Sau, Bá Lý Hề
giúp Mục Công dựng nên nghiệp lớn.
Bá Lý Hề Tượng BLH
Bỏ qua ông Ngũ Cổ Đại Phu nầy , ta chỉ nói về 5 tấm DA
DÊ...
Năm tấm da dê là dịch ở nhóm từ NGŨ TRƯƠNG HẮC CÔNG DƯƠNG
BÌ 五张黑公羊皮. Có nghĩa là : Năm tấm da dê đực màu đen. Dê ở đây là Miên Dương 綿羊,
ta gọi là con CỪU. Da Cừu đực màu đen dày và bóng rất đẹp, nhất là loại cừu của
đất Hồ: HỒ CỪU, dùng may áo ngự hàn thì không chê vào đâu được : ÁO HỒ CỪU quí
giá !. Nhưng dù quí giá đến đâu, 5 bộ da Hồ cừu đổi lấy một Tướng Quốc cũng còn
rẻ chán !
Thời Chiến Quốc còn nổi tiếng với 2 câu truyện TRI ÂM và
TRI KỶ. TRI ÂM thì ai cũng biết đến câu truyện của BÁ NHA và TỬ KỲ rồi, nhưng
TRI KỶ thì ít người biết đến Câu Truyện giữa DƯƠNG GIỐC ( GIÁC ) AI và TẢ BÁ ĐÀO
lắm !
Trong Bách Gia Tính ( Trăm Họ ) ngoài họ DƯƠNG 楊 là Dương Liễu
ra, còn có họ DƯƠNG 羊 là con DÊ nữa, đó chính là họ của DƯƠNG GIỐC AI đó vậy.
Truyện kể...
Vua nước Sở là Sở Nguyên Vương rất sùng Nho trọng Đạo, chiêu
hiền đãi sĩ. Người trong thiên hạ nghe tiếng tìm đến rất đông.
Thuở ấy,
tại núi Tích Thạch xứ Tây Khương có một hiền sĩ họ Tả tên Bá Đào, cha mẹ đều mất
sớm, nhưng có chí học hành, sớm trở thành người có tài an bang tế thế. Nghe
tiếng Sở Vương cầu hiền bèn lên đường tìm đến, giữa đường trọ nhờ nhà của Dương
Giốc Ai cũng là một hiền sĩ. Vì mến tài nhau nên cùng nhau kết nghĩa kim bằng.
Tả lớn hơn Dương 5 tuổi nên làm anh, Dương kính Tả như là một huynh trưởng, Đoạn
2 anh em rủ nhau cùng lên kinh đô nước Sở để tìm chữ công danh.
Dọc
đường, gặp lúc thời tiết khắc nghiệt, mưa tuyết bảo bùng mà phải băng rừng vượt
núi. Tả Bá Đào càng ngày càng kiệt sức, tự biết sức mình khó lòng vượt qua được
đoạn đường dài gian nan hiễm trở nầy, hơn nữa cũng tự biết rằng tài học vấn của
mình không sao bằng được Dương Giốc Ai và điều quan trọng nhất là lương thực
mang theo chỉ còn đủ dùng cho một người khỏe mạnh cố gắng vượt qua đoạn đường
hiễm trở lạnh lẽo nầy, nếu nấn ná cho cả 2 người thì có nguy cơ cả 2 đều phải
chết lạnh chết đói trong vùng rừng núi mịt mùng gió tuyết nầy. Nên, Tả quyết
định hi sinh bản thân mình mà thành toàn cho người em kết nghĩa hoàn thành tâm
nguyện thi thố tài năng để cầu chút công danh.
Thừa lúc Dương đi tìm củi sưởi ấm trong cơn bão tuyết, bèn
cởi hết quần áo ra, nhường áo để Dương mặc thêm cho đủ ấm. Khi Dương về đến thì
Tả mới thều thào nói cho người em kết nghĩa biết Ý định của mình và khuyên Dương
hãy tranh thủ lên đường, khi nào cầu được công danh hãy trở lại an táng cho
mình, nói xong thì tắt thở. Dương đành phải gạt lệ lên đường.
Khi đến
nước Sở yết kiến Sở Vương và dâng lên 10 sách lược rất thiết thực để làm cho
nước Sở phú cường. Nhà vua vui mừng, bày ngự yến thết đãi rồi phong Dương Giốc
Ai làm chức Trung Đại Phu. Dương khóc và kể lại chuyện Tả Bá Đào đã hy sinh cho
mình đi lập công danh. Sở Vương thương tình cũng truy phong cho Tả Bá Đào làm
Trung Đại Phu và cho Dương Giốc Ai dắt đoàn tùy tùng đi cải táng cho Tả Bá
Đào.
Truyện được kết thúc bằng cách cho Dương Giốc Ai tự sát sau
khi nằm chiêm bao thấy Tả Bá Đào về cho biết là mình bị Kinh Kha của ngôi mộ kế
bên đến ức hiếp. Chết để cùng với Tả Bá Đào chống lại Kinh Kha và Cao Tiệm Ly.
Truyện có vẻ hoang đường, nhưng kết thúc như thế cho trọn nghĩa kim bằng của
tình anh em TRI KỶ.
Đây cũng là nhân vật có họ DƯƠNG là DÊ hiếm hoi
trong trong văn học Trung Hoa và Việt Nam ta.
Sau khi diệt Ngô và Thục, Tư Mã Ý lên ngôi, lập nên nhà Tấn.
Truyền đến đời cháu nội là Tư Mã Viêm ( 236-290 ), con trưởng của Tư Mã Chiêu, ở
ngôi 35 năm, sử xưng là Tấn Võ Đế.
Tấn Võ Đế là ông vua hoang dâm của
nhà Tấn. Vừa lên ngôi, ông bèn ra lệnh cho dân gian ngưng ngay việc cưới hỏi,
rồi cho hoạn quan đến từng địa phương để tuyển gái đẹp đem về hậu cung. không
phải như Bạch Cư Dị tả hậu cung của Đường Minh Hoàng là
:
Hậu cung giai lệ tam thiên nhân,
後宮佳麗三千人.
( ba ngàn người đẹp sau hậu cung
).
Hậu cung của Tấn Võ Đế có đến 5 ngàn người đẹp từ khắp nơi
tuyển về, đủ mọi từng lớp sang hèn quí tộc bình dân... Tất cả người đẹp phải qua
sơ tuyển ở địa phương và chung tuyển trước khi được đưa vào cung. Ôi, 5.000
giai nhân cung nữ, làm cho nhà Vua đâm ra vui mừng đến bối rối, không biết phải
hưởng dụng như thế nào ?! May thay có một cận thần đưa Ý kiến : Vua nên ngồi
trên xe do 2 con dê kéo đi vòng quanh hậu cung, xe dê ngừng ở cửa của cung nhân
nào thì tối hôm đó Vua sẽ ngự ăn tối và ở đêm lại với cung nhân đó. Nhà vua đã
rất hoan hỉ mà nghe theo, báo hại các cung nhân phải nhờ người tìm hái lá dâu
của dê ăn mà rắc trước lối vào cửa cung của mình để mong rằng xe dê sẽ ngừng
lại vì dê muốn ăn lá dâu.
Xe
dê ở hậu cung và hình tượng Tấn Võ Đế Tư Mã Viêm.
Trong tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu
NGUYỄN GIA THIỀU cũng có câu :
Phải duyên hương lửa cùng
nhau,
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.
Và...
Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ
chỗ,
Dấu dương xa đám cỏ quanh co.
Tội nghiệp thay, 5000 cung nữ chỉ chờ đợi có một ông Vua mà
thôi !
Trong Tam Thập Lục Kế của Tôn Tử Binh Pháp, kế thứ 12
là : THUẬN THỦ KHIÊN DƯƠNG 順手牽羊, có nghĩa : Thuận tay dắt luôn con dê của người
khác, Ý muốn nói phải biết lợi dụng thời cơ, sơ hở của người khác để thủ lợi cho
mình. Kế nầy giống như là " Thừa nước đục thả câu " của ta vậy.
Trong binh pháp TÔN TỬ ghi Kế thứ 12 như sau : Vi khích
tại sở tất thừa, Vi lợi tại sở tất đắc. thiếu âm, thiếu
dương.微隙在所必乘;微利在所必得。少阴,少阳。
Có nghĩa : Phải biết lợi dụng cái sơ hở
nhỏ nhặt nhất của kẻ địch, Phải biết tranh thủ lấy cái lợi nhỏ nhặt nhất cho
mình. Ý là : Phải biết thừa cơ nắm lấy cái khuyết điểm nhỏ nhất của địch để biến
nó thành cái lợi nhỏ nhất cho mình, nhưng lại đưa đến cái kết quả lớn nhất
! Điều nầy nghe như không có gì, nhưng lại rất quan trọng trong phép dụng binh,
hành quân. Mời đọc...
Công Nguyên năm 383, Tiền Tần Vương Phù Kiên sau khi
thống nhất một dãy ven sông Hoàng Hà, định tập trung đủ 90 vạn quân sẽ đem quân
đánh ụp tiêu diệt nước Đông Tấn, bèn phái em là Phù Dung làm tiên phong chiếm
lấy thành Thọ Dương. Phù Dung đánh lấy thành một cách dễ dàng, biết Đông Tấn
binh yếu lại thiếu lương thực, mới đề nghị với Phù Kiên nhanh chóng đánh chiếm
Đông Tấn. Phù kiên không đợi binh lực tập trung đầy đủ, lập tức đem quân tấn
công Đông Tấn ngay.
Tướng Đông Tấn là Tạ Thạch biết được binh lực của
Tần chưa tập trung đầy đủ, bèn dùng kế khích tướng thách Phù Kiên nếu muốn phân
cao thấp thì hãy lui binh một dặm, mình sẽ đem binh qua sông Phì Thủy quyết một
trận hơn thua, bằng nếu sợ thua thì hãy đầu hàng ngay đi. Phù Kiên cả giận, định
giả vờ lui binh, đợi cho binh Tấn qua sông nửa chừng sẽ quay lại đón đánh một
trận cho tan tác binh nhung. Nào ngờ, lòng binh Tần đã chán nản vì chinh chiến
lâu ngày, nay thấy sứ giả quân địch vừa rời trại thì chủ tướng bèn ra lịnh lui
binh, nên lòng càng hoảng sợ mạnh ai nấy chạy người ngựa ngổn ngang dẫm đạp lên
nhau hổn loạn thành một khối. Phù Kiên ra lệnh dừng lại thì đã không còn kịp
nữa. Bên kia sông Tạ Thạch thấy thế bèn thừa cơ hạ lịnh quân sĩ cấp tốc sang
sông truy sát. Quân Tần thấy quân Tấn qua sông ráo riết càng hoảng sợ hơn dẫm
đạp lên nhau mà chạy trốn, đến nỗi nghe cơn gió thổi qua cây cỏ lào xào cũng
tưởng là quân Tấn đã đuổi đến nơi rồi. Sự kiện nầy đưa đến câu thành ngữ THẢO
MỘC GIAI BINH 草木皆兵, có nghĩa : Cỏ cây cũng đều là binh lính cả ! Điều nầy làm ta
nhớ lại đầu tháng 4 năm 1975 với DI TẢN CHIẾN THUẬT của Miền Nam, dân quân của
Vùng 1 và Vùng 2 Chiến Thuật chỉ biết cắm đầu cắm cổ chạy trối chết, làm hỗn
loạn cả Miền Trung, Cộng Sản Bắc Việt bất chiến tự nhiên thành, chiếm trọn Miền
Trung một cách dễ dàng và uy hiếp Sài Gòn trong chớp mắt...
Còn trận đánh trên quân Tần cũng đại bại. Phù Dung chết
trong đám loạn quân, còn Phù Kiên trúng tên bị thương may mà chạy thoát được. Sử
gọi trận đánh nầy là PHÌ THỦY CHI CHIẾN 淝水之戰.
Tạ Thạch cũng như Cộng Sản Bắc Việt đã biết lợi dụng cái
nhược điểm của kẻ địch để làm cái thuận lợi cho sự chiến thắng của mình, tức là
biết THUẬN THỦ KHIÊN DƯƠNG tiện tay dắt luôn " con dê " của đối phương một cách
dễ dàng !
Còn rất nhiều chuyện THUẬN THỦ KHIÊN DƯƠNG từ xưa đến nay,
như đến đời Tam Quốc, Lưu Bị vào ở trọ đất Kinh Châu rồi thi ân bố đức cho dân
chúng, tạo uy tín để làm chủ và chiếm luôn đất Kinh Châu trong khi Lưu Biểu nhu
nhược bệnh hoạn yếu đuối, và Lưu Bị đã thành công trong việc dắt luôn " con dê
" là đất Kinh Châu về tay mình theo kế sách của Khổng Minh Gia Các
Lượng....
Không nói đến chuyện xưa nữa, ta nói chuyện bây giờ, chuyện
trước mắt ở tại nước MỸ đây.... Hệ thống bán lẻ lớn nhất nước MỸ và lớn nhất thế
giới là Siêu thị WALMART có một qui định khôn ngoan là : Ta có thể lấy bất cứ
giá sale trên báo của bất cứ siêu thị nào khác cho tất cả các mặt hàng trong
siêu thị đến WALMART để mua, WALMART sẽ tính theo giá của siêu thị đó cho ta.
Nghĩa là WALMART sẽ bán hàng cho ta theo giá sale của tất cả các siêu thị, trong
business gọi đó là Kick the prices. WALMART làm thế là áp dụng kế sách THUẬN THỦ
KHIÊN DƯƠNG vào thương trường để dắt hết tất cả những "con dê " của siêu thị
khác về cho mình !
Trở về với Việt Nam....
Trong Lĩnh Nam Chích
Quái chương đầu tiên, viết về họ Hồng Bàng, đã kể lại rằng từ thời xa xưa,
người Việt trong hôn nhân, đã biết giết trâu, dê làm đồ sính lễ, con dê đã được
nuôi làm gia súc và sử dụng vào việc tế lễ. Vào giữa thế kỷ 16, trong bài Đào
Nguyên Hành thì Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đã tả cảnh nông thôn Việt Nam là
:
Trâu bò, gà lợn, Dê ngan,
Đầy lũ đầy đàn, rong thả khắp nơi.
Đây chắc cũng là nguồn gốc của câu tục ngữ " Gà Kê Dê Ngỗng
" mà ta nói trại riết rồi thành " Cà Kê Dê Ngỗng ", để chỉ những người hay ngồi
lê đôi mách, nói hết chuyện nầy đến chuyện kia, lải nhải mãi không
thôi.
Theo Ðại Nam thực lục Chính Biên, dưới triều đại vua Minh
Mạng, mùa Ðông năm Minh Mạng thứ 17 ( Công Nguyên 1836 ), nhà vua sai mua 220 dê
đực và 100 dê cái, chọn 20 con dê đực giao Tể Sinh làm lễ vật tế lễ Nam Giao,
đặt tại đàn Thượng có thịt dê ướp dương hải.
Dê cũng có những hình
tượng tiêu biểu đi vào thơ văn Việt Nam. Trong tác phẩm Hịch Tướng sĩ, Trần Hưng
Đạo cũng có nhắc đến hình ảnh con dê và coi đó là biểu hiện của bọn sứ giả Mông
Cổ hống hách, ngạo mạn:
Uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều
đình,
Đem thân dê chó mà ngạo mạn tể
tướng.
Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu cũng
có câu gởi phần tâm sự và lời chê trách những người làm tay sai tiếp tay với
thực dân hà hiếp dân lành đau khổ như :
Hai vầng nhật nguyệt chói
loà,
Đâu dung lũ treo dê bán chó.
Câu tục ngữ nổi tiếng: " Treo đầu dê, bán thịt chó " dùng
để chỉ về sự không thống nhất giữa nội dung và hình thức, Chỉ người nói một nơi,
làm một nẻo, nói và làm không ăn khớp nhau với hàm Ý gian lận hoặc lừa dối người
khác.
Trong ca dao và văn học dân gian, dê cũng hiện lên một
cách sinh động với :
Người ta tuổi Ngọ, tuổi
Mùi,
Còn tôi cam chịu ngậm ngùi tuổi Thân !
hoặc như
:
Ru em buồn ngủ buồn nghê,
Con
tằm chín đỏ, con dê chín mùi,
Con tằm chín đỏ để
nuôi,
Con dê chín mùi làm thịt em ăn.
Hình ảnh con dê còn trở nên thân thiết, gần gũi với đông đảo
quần chúng nhân dân hơn qua những trò chơi và lễ hội truyền thống. Như trò Bịt
Mắt Bắt Dê rất vui vẻ, sinh động. Trò chơi này thường được tổ chức trong các
ngày Hội đầu Xuân, Trung Thu.... hoặc các cuộc chơi thể thao văn hoá dân dã, với
các cách khác nhau tùy theo đối tượng tham dự. Đối với trẻ con, trò chơi này là
thú vui lành mạnh hồn nhiên sinh động, nhưng đối với các cô cậu thanh niên,
thiếu nữ thì đây là một dịp để họ tiếp cận, đụng chạm về thể xác vui đùa với
nhau, vượt qua ranh giới lễ giáo một cách hợp pháp :
Giả vờ bịt mắt bắt dê,
Để cho cô cậu dễ
bề... với nhau !
Về bản tính tự nhiên, dê là con vật giao phối và
sinh sản rất mạnh nên dê được gán cho hình tượng của sự dâm đãng và thô tục,
điều này là điểm tương đồng trong nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới.
Chính vì khả năng sinh lý rất mạnh của mình, con dê bị gắn liền với nhiều thành
kiến. Người ta hay dùng từ Máu Dê để chỉ những người có ham muốn, không kiểm
soát và muốn thể hiện khả năng sinh dục mạnh mẽ, Thói Dê khái quát bản tính ham
chinh phục người khác giới hay sự dâm tiện, Dê Cụ hay Dê Già chỉ kẻ rất dâm
đãng, Dê Xồm cũng có nghĩa tương tự. Hãy xem trong văn thơ cổ điển của ta...
.
Trong Lục Vân Tiên, bộ mặt của Bùi Kiệm đã
từng giở trò với Kiều Nguyệt Nga, trở thành trơ trẽn qua câu
thơ:
Con người Bùi Kiệm máu
dê,
Ngồi chai bộ mặt như giề thịt trâu.
Nữ
sĩ Hồ Xuân Hương cũng từng miêu tả về những nhu cầu tính dục khá thầm kín thông
qua từ ngứa, buồn, châm, húc, như :
Ong non ngứa
nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc giậu
thưa.
Trước năm 1954, ở Sài Gòn - Chợ Lớn, có hai chỗ đánh bạc rất
nổi tiếng, đó là các sòng Kim Chung và sòng Đại Thế Giới. Hai casino này đã bị
xóa tên từ năm 1956, bời quyết định của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Khu Dân Sinh ở
đường Nguyễn Công Trứ bây giờ là Kim Chung ngày trước, còn Đại Thế Giới đã trở
thành Nhà Văn Hóa Quận 5 (đường Trần Hưng Đạo B) bây giờ. Trong các trò chơi cờ
bạc như Hốt me, Tài Xiểu, Xì Dách... Còn có trò chơi XỔ ĐỂ 36 rất thu hút cả
giới trí thức lẫn bình dân. Các con số đề từ số 1 là con Cá Trắng, có tên chữ là
Chiếm Khôi, là một trong Tứ Trạng Nguyên.... cho đến số 36 là Bà Vãi cầm tinh
con Chồn, tên chữ là An Sĩ, thuộc Nhất Đạo Cô. Trong đó có một con số đề rất nổi
tiếng, đi sâu vào đời sống sinh hoạt của quần chúng và còn sống mãi cho tới hiện
nay, đó là con số 35, tên chữ là Kiết Phẩm, cầm tinh con DÊ, thuộc một trong Tứ
Hảo Mệnh.
Vì bản chất sinh lí mạnh mẽ của con dê, nên hễ đàn ông con
trai nào thích ve vản đàn bà con gái thì gọi là DÊ. Chữ DÊ là Danh từ , được sử
dụng như Hình Dung Từ khi dùng để chỉ bản chất : Cái thằng cha đó DÊ lắm và trở
thành Động Từ trong cách nói : Đi DÊ gái, thích DÊ gái... Và có thể thay thế
bằng con số 35 trong các cách nói sau :
- Thằng cha đó 35 lắm
!
- Thứ cái đồ 35 !
- Ông già 35 ! Tức là ông Già
DÊ.
Trong Ca Dao bình dân của bà con Lục Tỉnh lúc bấy giờ có câu
:
Phượng hoàng đậu nhánh
sa-kê,
Ông thần sao không vật mấy thằng DÊ cho rồi
!
Hoặc :
Dê xồm ăn lá khổ
qua,
Ăn nhiều sâu rọm, chết cha dê xồm.
Nạn số
đề không những chỉ ở Sài Gòn - Chợ Lớn mà còn được phổ biến ra khắp đồng bằng
sông Cửu Long, cụ thể như ở miệt Cần Thơ do lực lượng Hòa Hảo tổ chức cùng khắp
như Chợ Cái Răng, Cái Chanh... đều có sòng Tài Xiểu, Hốt me, Xổ đề 36 .... Trong
bài " Vè Thua Đề 36 " của Thầy giáo Kiến ở ấp Yên Thượng Ba Láng ngày xưa có
đoạn như sau :
Gái xuân đi chợ mới
về,
Gặp trai bóp vú, đánh DÊ hết
tiền.
Đề nghe " bẻ cổ " liền liền,
*
Hai mươi chín, mười tám, chữ Thiên đứng đầu.
**
Lái buôn thua thiếu câu mâu,
Bạn bè đuổi hết ngồi sầu lái ghe !....
Trở lại với nguồn gốc của chữ DƯƠNG 羊 là con
DÊ, vì đồng âm với chữ DƯƠNG 陽 là Mặt trời, là Ánh nắng, là khí dương sáng sủa
sau những ngày tháng âm hàn của mùa đông. Nên trong đầu mùa xuân cũng là lúc mở
đầu của một năm với khí dương của Trời Đất và Con Người mở ra cái Vận Khí mới,
gọi là TAM DƯƠNG KHAI THÁI 三陽開泰 . Vì 2 chữ DƯƠNG đồng âm nên TAM DƯƠNG KHAI
THÁI được vẽ thành hình của 3 con DÊ trong những bức tranh treo ở trong nhà
trong những ngày đầu xuân Tết đến để lấy hên.
Chữ DƯƠNG 羊 còn có tự dạng giống như chữ TƯỜNG 祥, nên còn được
dùng thay thế cho chữ Tường trong lời chúc CÁT TƯỜNG NHƯ Ý 吉祥如意. Có thể viết là
CÁT DƯƠNG 吉羊 nhưng ta phải biết đó là CÁT TƯỜNG 吉祥 như những hình ảnh minh họa
dưới đây.
CÁT là Tốt, TƯỜNG là Lành, nên CÁT TƯỜNG là Tốt lành ! Vạn
Sự Cát Tường là : Muôn điều đều tốt lành. CÁT TƯỜNG NHƯ Ý thì nghĩa đã quá rõ
ràng rồi !

Thịt dê còn là món ăn khoái khẩu của giới ăn uống, nhất
là những tay bợm nhậu. Nào là Dê thui, Dê Nấu Chao, Lẫu Dê, Cà-Ri Dê, nhất là
món Ngọc Dương hầm thuốc Bắc thì được ưa chuộng vô cùng. Đây là món mà Ông ăn
nhưng bà lại khen... tuyệt diệu !
Hai câu chót của bài Sấm Trạng Trình là :
Mã đề dương cước anh hùng
tận,
Thân dậu niên lai kiến thái bình
!
Ta hãy thử chờ xem ANH HÙNG nào sẽ TẬN ở DƯƠNG CƯỚC là cuối
năm DÊ 2015 nầy, để cho năm Thân năm Dậu tới đây Thế Giới được an hưởng THÁI
BÌNH THỊNH VƯỢNG, mong lắm thay !
Cuối cùng xin mời cùng đọc các bài XƯỚNG HỌA về năm ẤT MÙI
con Dê của năm 2015 nầy :
BÀI XƯỚNG :
ẤT MÙI VỊNH DÊ
Đứng hàng thứ tám thuộc chi Mùi,
Nổi tiếng Ông
Thầy, tính thích vui.
Qụy nhũ xưa nay danh hiếu tử,
Tế
thần Âu Á vật thay người.
Treo dê bán chó bao tên bợm,
Bịt mắt bắt dê lắm đứa chơi.
Thui, lẩu, cà-ri, đều khoái
khẩu,
Ngọc dương truyền giống tốt cho đời !
Đ C
Đ
CÁC BÀI HỌA :
TUỔI MÙI
Bác ấy tổ sư chính tuổi Mùi ,
Tánh nào tật nấy cứ ham vui .
Nói năng đon đả trơ trơ mặt ,
Cười cợt ga-lăn * lao láo người .
Mỹ nữ cừu non luôn mộng ão ,
"Ông Thầy" dê cụ vẫn trò chơi .
Năm nay ráng kiếm thằng Cu tí ,
Giống tốt làm ăn khỏe một đời .
Ml
(*) gallant
Rằng
Dê Cũng Lắm Công Phu
Lúc mới sinh ra chẳng
tuổi Mùi
Nhưng vì cái tánh thích vui vui
Tập tành lẽo đẽo theo sau gái
Giở thói be he học ở người
Cứ tưởng chuyện nầy coi đáng ghét
Thiệt ra đây há phải trò chơi
Thép kia tôi luyện càng thêm tốt
Không chịu
dê sao kiếm bạn đời?
Quên
Đi
MÓN LẪU DÊ PHỔ THÔNG
Ba lăm nổi cộm lọai dê Mùi,
Món nhậu dê thui ắt phải vui.
Bữa tiệc sơn dương ăn khóai khẩu,
Cổ bàn lễ vật của thay người.
Đầu dê phỉnh gạt người mê lẫu,
Chó bán lừa ai bịt mắt chơi.
Tìm kiếm ngọc dương ăn bổ thận,
Cà ri dê với bún quên đời.
M X T
XEM TUỔI
Tam hạp
bày chi Hợi Mẹo Mùi
Lời ra khắc khẩu lấy gì vui
Ly hôn cũng bởi thầy coi tuổi
Gãy gánh vì bao sách dọa người
Quả nọ nhân kia chiêu có cảm
Nồi nào vung nấy thích thì chơi
Mã đề dương cước anh hùng tận
Cụ Trạng còn linh đến mấy đời ?
C LT
VỊNH DÊ ẤT MÙI
Ở bậc can chi hợp Ất Mùi
Tôn thầy vì bởi tính ham vui
Hào hoa mạnh khỏe sung tràn sức
Giỏi mánh bền dai thuyết phục người
Rượu huyết thơm nồng phê hết lóc
Lẩu dê rừng rực dễ tìm chơi
Ngọc dương đệ nhất kim danh tửu
Cống hiến nhiều hơn với cõi đời
N Đ T
MÁT TAY
Họa vui
.
Tuổi ấy năm nay duyên chín mùi
Nỗi
lo đã hết chỉ toàn vui
Cau vàng chưa kịp len màu vỏ
Trầu thắm đưa ngay đến
cửa người
Áo đỏ em may vừa dịp phất
Bài thơ anh viết đúng hồi chơi
Vía
"thầy" Dê núi ngon lành ạ
Cảm tạ ông mai mát tiếng đời
T X
Cám ơn tất cả THẦY, BẠN đã nhiệt tình hưởng ứng HỌA THƠ :
ẤT MÙI VỊNH DÊ cho bài viết càng thêm phong phú đa dạng hơn.
Chân thành cám ơn tất cả !
Đ C Đ.